Chính sách phát triển công nghiệp 4.0 tại một số quốc gia trên thế giới

04:00 PM 04/08/2017 In bài viết

Với nhiều lợi ích mang lại, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang được nhiều quốc gia coi là ưu tiên phát triển hàng đầu. Theo nghiên cứu của ngân hàng UBS, Thụy Sĩ công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) 2016, mức độ thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN4) của 139 nước trên thế giới được đánh giá và xếp hạng theo thứ tự sau: Thụy Sĩ (1), Singapore (2), Hà Lan (3), Phần Lan (4), Mỹ (5), Anh (6), Nhật Bản (12), Đức (13), Malaysia (22), Hàn Quốc (25), Trung Quốc (28)...

Xét về số lượng đăng ký các bằng sáng chế công nghệ liên quan đến CMCN4, theo Viện Chiến lược Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc, trong 20 năm qua, ba nước đứng đầu là: Mỹ (chiếm 53% tổng số đăng ký sáng chế), Nhật Bản (20%), Hàn Quốc (17%). Còn xét về chất lượng các bằng sáng chế và mức độ cạnh tranh trên thị trường thì thứ tự lần lượt là: Mỹ, Nhật, Đức và Hàn Quốc.

Cách mạng công nghiệp 4.0 và chính sách của một số nước

Thực tế, do khái niệm CMCN4 còn rất mới nên các nước trên thế giới đều chưa có những chiến lược, chính sách đề cập trực tiếp đến CMCN4, trừ Đức có dự án “Công nghiệp 4.0”, còn lại hầu hết chỉ tập trung vào những khái niệm gián tiếp liên quan đến CMCN4 như “Chế tạo tiên tiến”,“Kinh tế số”, “Kinh tế sáng tạo”…

Chính sách của Đức

Đức là một trong những nước đi tiên phong trong CMCN4. Chính phủ nước này đang nỗ lực hiện đại hóa hạ tầng công nghiệp của mình, nhằm thúc đẩy nền kinh tế số và xóa đi ranh giới giữa công nghiệp và các dịch vụ. Từ năm 2012, Đức thành lập Nhóm đặc trách về “Công nghiệp 4.0” bao gồm các cơ quan nhà nước, công ty, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học. Nhóm này chịu trách nhiệm đưa ra các khuyến nghị cho Chính phủ liên bang Đức về cách thiết lập và thực hiện “Công nghiệp 4.0”. Theo đó, các lĩnh vực ưu tiên hành động để dẫn đầu Công nghiệp 4.0 là: (i) tiêu chuẩn hóa; (ii) cung cấp cơ sở hạ tầng băng thông rộng toàn diện cho các ngành công nghiệp; (iii) xây dựng các cơ chế và giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn thông tin; (iv) đào tạo, phát triển chuyên môn, hiệu quả nguồn lực

Ngoài ra, Đức còn tăng cường ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D)nhằm phục vụ Công nghiệp 4.0 và coi đây là trọng tâm của chương trình R&D cấp quốc gia trong vòng 10 năm tới. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao đặc biệt được chú trọng. Có rất nhiều chương trình ỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ như Chương trình German Silicon Valley Accelerator (Hỗ trợ doanh nghiệp mới thành lập trong lĩnh vực CNTT), cho phép 10 doanh nghiệp mới thành lập sang San Francisco, bang California, Mỹ, trong vòng một năm. Chương trình thường niên này, được tài trợ bằng tiền ngân sách, nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trình bày ý tưởng kinh doanh để tìm nguồn vốn từ các quỹ đầu tư quốc tế cũng như từ Mỹ và học hỏi về công nghệ và kỹ thuật từ các công ty bản địa. 

Đặc biệt, Đức đang tìm cách thu hút lao động nước ngoài, thông qua việc nới rộng các chính sách nhập cư, đặc biệt đối với các chuyên gia CNTT;

Chính sách của Anh

 Để xây dựng nền kinh tế số, năm 2010, nước Anh đưa ra sáng kiến “thành phố công nghệ” (Tech City UK) với 21 cụm công nghệ số (digital cluster) trên khắp nước Anh, trong đó London là khởi nguồn. Trong tổng số 47.200 công ty công nghệ số ở London, xấp xỉ 98% là các doanh nghiệp nhỏ.

Năm 2012, Anh tiếp tục đưa ra Chiến lược công nghiệp, tập trung vào các công nghệ, kỹ năng, tiếp cận tài chính, quan hệ đối tác với các ngành và mua sắm. 11 lĩnh vực đã được xác định và các chiến lược phát triển trong quan hệ đối tác với ngành công nghiệp nhằm xây dựng lòng tin và đầu tư về dài hạn. Các sáng kiến được chính phủ và ngành công nghiệp tài trợ đáng kể.

Ngày 27/4/2017, Luật về Nền Kinh tế số đã được thông qua, nhằm đưa nước Anh trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong nền kinh tế số. Trong đó đưa ra một loạt giải pháp được bao gồm: băng rộng (khởi điểm tốc độ tối thiểu 10 Mbit/s) tới mọi người dân trở thành dịch vụ viễn thông công ích; cơ quan quản lý viễn thông (Ofcom) có thêm quyền yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông công khai dữ liệu khiếu nại và tốc độ đường truyền của khách hàng nhằm minh bạch thông tin cho người dân lựa chọn dịch vụ; khách hàng sẽ được bồi thường tự động nếu tốc độ băng thông không đảm bảo...

Chính sách của Mỹ

Mỹ là quốc gia đứng đầu thế giới trong ngành công nghiệp chế tạo. Chính phủ nước này đã dành ưu tiên hơn cho các kỹ thuật cơ khí và đang tìm cách theo đuổi một chính sách công nghiệp tích cực để tạo việc làm và khuyến khích sản xuất ở Mỹ. Chương trình “Chế tạo tại Mỹ” được khởi xướng từ năm 2010 nhằm nâng cao năng lực ngành chế tạo của Mỹ và tạo thêm nhiều việc làm. Năm 2011, chương trình AMP: “Đối tác chế tạo tiên tiến” được đưa ra nhằm định hướng đầu tư và thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Năm 2013, phát triển thành AMP 2.0 trên cơ sở thành lập mạng lưới các Viện nghiên cứu đổi mới chế tạo.

Để hỗ trợ cho Công nghiệp 4.0, tháng 3/2014, Liên minh Internet Công nghiệp (Industrial Internet Consortium - IIC) được thành lập, với trọng tâm là nghiên cứu ứng dụng IoT trong công nghiệp (IIoT). IIC có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển của Internet công nghiệp, đưa ra các định nghĩa chuẩn về các yêu cầu kết nối và nhằm đảm bảo tính tương tác giữa hàng tỉ thiết bị sử dụng trong xu hướng IoT.

Ngoài ra, Mỹ cũng tăng tài trợ cho R&D trong sản xuất. Đến nay, Chính phủ Mỹ đã đầu tư 1,1 tỷ USD cho AI (chưa tính các dự án AI cho an ninh, quốc phòng).

Chính sách của Trung Quốc

Từ năm 2010, Trung Quốc công bố IoT trở thành một trụ cột của nền kinh tế. Trung tâm IoT quốc gia được thành lập ở Thượng Hải vào năm 2010. IoT còn được đưa vào các kế hoạch phát triển 5 năm. Năm 2013, nước này đã thành lập Hội đồng liên ngành IoT.

Tháng 3/2015, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chiến lược công nghiệp “Made in China 2025”, gồm 9 nhiệm vụ chiến lược, 10 lĩnh vực then chốt (trong đó có CNTT thế hệ mới) và 5 đề án trọng điểm (trong đó có Sản xuất thông minh). Mục tiêu của chiến lược là biến Trung Quốc thành một người khổng lồ về sản xuất trong vòng 10 năm tới bằng cách sử dụng các công nghệ tiên tiến như robot, cảm biến và trí tuệ nhân tạo, nhằm giảm sự phụ thuộc vào lao động rẻ trong sản xuất, đặc biệt là trong bối cảnh giá nhân công lao động của Trung Quốc đang tăng, và tập trung vào các hệ thống tự động hóa và kỹ thuật số để cải thiện điều khiển quy trình. 

Ngay sau đó, tháng 7/2015, chương trình “Internet+” được đưa ra nhằm tích hợp Internet di động, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và IoT vào nền sản xuất hiện đại; hội tụ “ba mạng”: viễn thông, quảng bá, Internet; tăng tốc xây dựng mạng cáp quang.

Mới đây nhất, tháng 6/2017, chính phủ nước này đã đưa ra dự thảo Lộ trình phát triển AI quốc gia đến 2030.

Chính sách của Nhật Bản

Chính phủ Nhật Bản sớm nhận thức rằng CMCN4 là cơ hội lớn để Nhật có thêm sức cạnh tranh mới, thoát khỏi 2 thập kỷ kinh tế phát triển chậm chạp. Vì thế, từ năm 2013, nước này đã công bố “Chiến lược toàn diện cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, trong đó tập trung thúc đẩy “thông minh hóa”, “hệ thống hóa” và “toàn cầu hóa”. Công nghệ số, công nghệ nano và công nghệ môi trường là trọng tâm được ưu tiên thúc đẩy trong chiến lược.

Đến năm 2015, “Chiến lược cách mạng hóa rô-bốt” được đưa ra, bao gồm 3 trụ cột: Nhật Bản trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo rô-bốt của thế giới; Nhật Bản dẫn đầu thế giới về sử dụng rô-bốt trong xã hội; Trình diễn với thế giới những sáng kiến rô-bốt Nhật Bản bằng cách dẫn đầu thời đại rô-bốt mới với ứng dụng IoT.

Tiếp đó, tháng 1/2016, công bố “Kế hoạch cơ bản về Khoa học và Công nghệ lần thứ 5” giai đoạn 2016 - 2020, trong đó xây dựng một xã hội “siêu thông minh” hay “Xã hội 5.0”. Trong đó, “Xã hội 5.0” giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách kết nối các hệ thống sử dụng công nghệ số làm nền tảng hợp nhất không gian thực và không gian ảo (số). “Xã hội 5.0” là xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu của từng cá nhân.

Cũng từ tháng 6/2016, Nhật Bản đã đưa môn học lập trình trở thành môn học bắt buộc tại các trường trung học cơ sở.

TH