Lào Cai tiên phong thực hiện thuê dịch vụ CNTT

04:25 PM 18/07/2017 In bài viết

Cụ thể, ông Hồ Khánh Quang cho biết UBND tỉnh Lào Cai vừa chính thức giao cho Sở TT&TT ký kết Hợp đồng thuê dịch vụ CNTT. Hợp đồng này đã được ký vào ngày 30/6/2017 bao gồm: phần mềm cổng thông tin điện tử, phần dịch vụ công trực tuyến và phần mềm điều hành.

Có thể nói Lào Cai là tỉnh đầu tiên trên cả nước thực hiện được theo Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước (CQNN). Đây là sự quyết tâm vào cuộc của tỉnh Lào Cai trong xây dựng chính quyền điện tử”, ông Quang nhấn mạnh.

Tuy nhiên, nhìn lại những công việc đã thực hiện để triển khai nội dung thuê dịch vụ CNTT tại Lào Cai, ông Quang cho rằng rất khó khăn và gian truân bởi việc thực hiện quy trình thuê dịch vụ mất  nhiều thời gian, đặc biệt là làm thủ tục tương đương với đề cương và dự toán chi tiết, chưa rút ngắn được tối đa quy trình thực hiện.

Theo đó, ông Quang đề nghị trong thời gian chờ Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 102/2009/NĐ-CP về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, trong đó có nội dung thuê dịch vụ CNTT, Bộ TT&TT cần có văn bản hướng dẫn cụ thể công tác thuê dịch vụ CNTT để triển khai được nhanh chóng, đảm bảo hiệu quả.

Ông Quang cũng cho biết thêm Lào Cai là tỉnh đầu tiên ban hành được Quyết định về việc công bố đơn giá bảo trì mạng thông tin của tỉnh.

Chúng tôi phải xây dựng đơn giá vì tỉnh Lào Cai có hệ thống mạng LAN, WAN rộng khắp được xây dựng từ năm 2009, đến nay đã đến kỳ bảo dưỡng. Tuy nhiên, khi xây dựng quyết định này, Sở TT&TT Lào Cai rất vất vả mới ban hành được đơn giá do thiếu các căn cứ để xây dựng đơn giá”, ông Quang cho biết thêm.

Do vậy, ông Quang tiếp tục đề nghị Bộ TT&TT cùng Bộ Tài chính sớm chỉ đạo các đơn vị chức năng ban hành đơn giá bảo trì mạng thông tin để tạo thuận lợi cho các địa phương khi triển khai.

Cũng tại Hội nghị, ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam cho biết, lĩnh vực CNTT là một lĩnh vực khó, nguồn đầu tư cho CNTT gặp khó khăn. Thuê dịch vụ công chưa có chính sách nên vướng mắc rất nhiều. Bộ TT&TT cần kết hợp với các đơn vị để ra chính sách phù hợp cho CNTT.

Ảnh minh họa: bhxhlaocai.gov.vn

Được biết, Vụ CNTT, Bộ TT&TT đã và đang thực hiện xây dựng danh mục Dịch vụ CNTT phục vụ CQNN. Tại buổi Tọa đàm về Danh mục Dịch vụ CNTT phục vụ CQNN triển khai thuê dịch vụ CNTT được tổ chức hồi tháng 3/2017, ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó Vụ trưởng Vụ CNTT Bộ TT&TT chia sẻ, để thực hiện Quyết định 80/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 80), Bộ TT&TT đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa việc thuê dịch vụ CNTT trong CQNN. Bộ TT&TT đã có văn bản gửi các hội, hiệp hội và doanh nghiệp CNTT đề nghị tổng hợp danh sách các dịch vụ CNTT sẵn sàng cho thuê kèm theo giá thuê dự kiến và đề nghị các doanh nghiệp chủ động, sớm công bố công khai giá thuê, cũng như cam kết chất lượng hoạt động, dịch vụ CNTT.

Ông Nguyễn Thanh Tuyên đã đề xuất, trước mắt, Bộ TT&TT chỉ nên ban hành Danh mục một số hoạt động, dịch vụ sẵn có trên thị trường. Danh mục này nhằm tới mục tiêu tổng hợp dịch vụ CNTT do các hội, hiệp hội, doanh nghiệp CNTT cung cấp và ý kiến góp ý của các CQNN; Chi tiết hóa danh mục một số hoạt động, dịch vụ CNTT theo Điều 2, Quyết định 80; Tổng hợp các khuyến nghị về yêu cầu chức năng, tính năng kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cần đáp ứng đối với một số hoạt động, dịch vụ CNTT đã được các CQNN ban hành. Danh mục một số hoạt động, dịch vụ sẵn có trên thị trường góp phần xây dựng danh mục dịch vụ thông dụng, sẵn có trên thị trường, giúp các CQNN tham khảo khi xây dựng, lựa chọn, đề xuất kế hoạch, dự án thuê dịch vụ CNTT. Nguyên tắc xác định dịch vụ CNTT thông dụng do Bộ TT&TT đề xuất bao gồm: Dịch vụ đã được cung cấp bởi ít nhất 3 doanh nghiệp; Có đầy đủ thông tin về dịch vụ được cung cấp trên mạng Internet; Có công bố điều khoản cam kết chất lượng dịch vụ; Công bố danh sách các khách hàng đã sử dụng dịch vụ, thời gian sử dụng dịch vụ của khách hàng.

Ông Tuyên cũng cho biết, thực hiện theo Quyết định 80, nhiều Bộ ngành, một số đơn vị đã bắt đầu triển khai được dịch vụ trực tuyến như: Bộ Y tế đưa vào hoạt động dịch vụ công trực tuyến quản lý trang thiết bị, công trình y tế; Bệnh viện huyết học; Bảo hiểm Xã hội, TP. Hà Nội... Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho thấy một số khó khăn, nhất là khâu lập dự toán và thẩm định dự toán. Một số dịch vụ hosting, đường truyền thì tương đối dễ, đã sử dụng từ trước khi có Quyết định 80, nhưng các dịch vụ khác là khá khó khăn như một số dịch vụ mà các Bộ, ban ngành yêu cầu về kỹ thuật và một số chức năng chuyên ngành thì chưa có văn bản nào.

Được biết, tại thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức đam tại Hội nghị về Chỉ số Chính phủ điện tử (CPĐT) của Liên hợp quốc được tổ chức ngày 17/01/2017, đã nêu rõ  để nâng cao chỉ số xếp hạng CPĐT của Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:

Lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương quyết liệt chỉ đạo, khẩn trương khắc phục tồn tại, bất cập, thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 36a, và các văn bản liên quan của Chính phủ.

Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm các nước có dịch vụ công trực tuyến phát triển như Pháp, Singapore, các bộ, cơ quan nhất là các bộ thuộc 6 lĩnh vực trọng điểm (giáo dục, y tế, tài chính, phúc lợi xã hội, lao động, môi trường) lựa chọn một số dịch vụ công trực tuyến đơn giản, có thể triển khai ngay, dịch vụ được người dân sử dụng thường xuyên và dịch vụ có thu phí để tiến hành thực hiện trước.

Đồng thời phối hợp, hỗ trợ một số địa phương có điều kiện thuận lợi nhằm triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến một cách đồng bộ. Qua đó tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên toàn quốc.

Để nâng cao chỉ số xếp hạng CPĐT của Việt Nam, lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương cần quyết liệt chỉ đạo, khẩn trương khắc phục tồn tại, bất cập, thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 36a và các văn bản liên quan về CPĐT.

Về thuê dịch vụ CNTT, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần chọn các doanh nghiệp CNTT lớn, có đủ nguồn lực và kinh nghiệm để triển khai thực hiện.

Lan Phương