Một số nội dung chính của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á – Âu

03:46 PM 23/11/2015 In bài viết

Tận dụng tốt cơ hội từ FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu

Đây là Hiệp định thương mại tự do mang tính lịch sử, không chỉ vì Việt Nam là đối tác đầu tiên ký kết hiệp định này với liên minh kinh tế Á - Âu mà còn đem đến cơ hội vàng xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến.

Có thể nói lần đầu tiên, Việt Nam có một Hiệp định mang tính bao quát, chất lượng cao và bao gồm hầu như toàn bộ các lĩnh vực thương mại đầu tư từ dịch vụ hàng hóa cho đến dịch vụ đầu tư đến thương mại, tài chính ngân hàng, dịch vụ khoa học công nghệ, lĩnh vực thương mại điện tử. Còn đối với Liên minh kinh tế Á - Âu, Việt Nam là nước đầu tiên ngoài khối mà Liên minh này đàm phán, ký kết thương mại tự do. Riêng về nội dung này đã nói lên tầm quan trọng của Hiệp định thương mại tự do lần này mà Việt Nam ký kết với Liên minh kinh tế Á - Âu.

Ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu

Đây là một Hiệp định toàn diện, có chất lượng cao, không chỉ có thương mại hàng hóa, dịch vụ bình thường hay lĩnh vực đầu tư mà nó còn một số nội dung khác như sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường, mua sắm của Chính phủ. Hiệp định này tập trung vào một số nội dung chính mà nội dung quan trọng nhất và các bên quan tâm nhất là nội dung mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ đầu tư.

Qua tính toán, đàm phán, hai bên đã hiểu rõ những mong muốn và sự quan tâm của bên kia trong từng lĩnh vực, hiểu được những yêu cầu cần thiết mà phía bên kia đặt ra cho bên này. Với Việt Nam có thế mạnh về các mặt hàng nông sản, thủy sản, dệt may về giày dép và một số mặt hàng về thực phẩm chế biến. 

Ngược lại, phía Liên minh kinh tế Á - Âu, trong đó có Nga và Belaruts có thế mạnh về sản phẩm cơ khí chế tạo, có tiềm năng lớn về tài nguyên khoáng sản mà Việt Nam đang rất cần. Chính sự quan tâm đầu tiên của hai bên về những thế mạnh hàng hóa và đó là thế mạnh của mỗi bên hỗ trợ lẫn nhau chứ không triệt tiêu nhau. Đây chính là điểm thuận lợi khi Việt Nam đàm phán Hiệp định với Liên minh kinh tế Á - Âu, bởi nền kinh tế các bên sẽ được hỗ trợ tăng cường hơn bởi sự tham gia của bên kia sau khi hiệp định được ký kết.

Một lĩnh vực rất quan trọng là lĩnh vực đầu tư, Liên minh kinh tế Á - Âu, đặc biệt là Liên bang Nga có thế mạnh về khoa học công nghệ và trong cơ khí chế tạo. Người dân Việt Nam đã biết về một số sản phẩm được chế tạo từ Liên Xô cũ và nay là Liên minh kinh tế Á - Âu như ôtô, máy móc xây dựng, sản phẩm cơ khí chế tạo. Nếu các dự án đầu tư này của Liên minh hoạt động tại Việt Nam thì chúng ta có thể tranh thủ được cơ hội để tiếp thu công nghệ và tiếp cận với dự án đầu tư có trình độ tiên tiến trên khu vực và thế giới.

Ngược lại, Việt Nam có thế mạnh đầu tư trong một số lĩnh vực về chế biến, sản xuất hàng dệt may, giày dép và chế biến thủy sản. Phía bạn cũng rất cần chúng ta không chỉ xuất khẩu các sản phẩm này sang phía bạn mà còn mong muốn chúng ta có thể đặt các nhà máy sản xuất chế biến tại các nước Liên minh kinh tế Á - Âu và từ đó có các sản phẩm không phải chỉ có tiêu thụ tại thị trường ở các nước này mà còn tính đến khả năng vươn ra thị trường ở các nước xung quanh.

Các nội dung chính của FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á - Âu

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu bao gồm 15 chương. Các Chương chính là về Thương mại hàng hóa, Quy tắc xuất xứ, Phòng vệ thương mại, Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Quy tắc xuất xứ, Thuận lợi hóa hải quan, Phòng vệ thương mại, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Công nghệ điện tử trong thương mại, Cạnh tranh, Pháp lý và thể chế. Ngoài ra còn có các Phụ lục về mở cửa  thị trường Hàng hóa, Dịch vụ, Đầu tư, Quy  tắc xuất xứ.

Đối với các cam kết về hàng hóa

Hai bên dự kiến sẽ dành cho nhau mức mở cửa thị trường hàng hóa, chiếm khoảng 90% số dòng thuế, tương đương vào khoảng trên 90% kim ngạch thương mại song phương. Các chuyên gia kinh tế dự báo, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai bên sẽ đạt con số 10-12 tỷ USD vào năm 2020, tức là có thể tăng gấp 5 lần so với năm 2014. Dự báo kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang liên minh này hàng năm cũng sẽ tăng khoảng 18-20%.

Về phía EEU: Khu vực này dành cho Việt Nam nhiều ưu đãi về thuế quan đặc biệt với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, thủy sản. Cụ thể, tất cả các mặt hàng thủy sản của Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực, da giày cũng hưởng thuế suất 0%, dệt may có 1 số nhóm hàng cũng giảm thuế 0% còn 1 số khác thì sẽ giảm theo lộ trình 3, 5, 10 năm. Đây là minh chứng thiết thực nhất trong nỗ lực mở rộng thị trường xuất khẩu, đảm bảo đầu ra cho hàng Việt, nhất là mặt hàng nông sản mà Chính phủ đang tập trung triển khai quyết liệt. Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á - Âu chắc chắn sẽ tạo ra thị trường rộng lớn và bền vững, tạo cơ hội vàng tiêu thụ các nhóm hàng mà Việt Nam có lợi ích cơ bản như nông sản và hàng công nghiệp như dệt may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến. 

Còn về phía Việt Nam cũng đồng ý mở cửa thị trường có lộ trình cho EEU đối với một số sản phẩm chăn nuôi, một số mặt hàng công nghiệp gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải... Các mặt hàng này nhìn chung đều không cạnh tranh với hàng hóa trong nước mà ngược lại còn góp phần đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng. Riêng đối với các mặt hàng nông sản, Việt Nam đồng ý mở cửa ngay như sữa và các sản phẩm sữa, một số sản phẩm ngũ cốc... Mặc dù đây là các mặt hàng thuộc diện ưu tiên từ phía Liên minh nhưng trong bối cảnh hiện nay, do sản xuất nông nghiệp của phía bạn chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa và chưa tập trung cho xuất khẩu nông sản nên dự báo trong 5 năm đầu thực thi Hiệp định, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ không bị tác động rõ rệt bởi việc nhập khẩu mặt hàng nông sản từ các nước thành viên Liên minh kinh tế Á - Âu.

Tuy nhiên, để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định này, hàng hóa phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ của Hiệp định. Cụ thể, hàng hóa sẽ được coi  là có xuất xứ  tại một Bên (Việt Nam hoặc EAEU) nếu: 

- Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một Bên, hoặc

- Được sản xuất toàn bộ tại một hay hai bên, từ những nguyên vật liệu có xuất xứ từ một hay hai Bên, hoặc

- Được sản xuất tại một Bên, sử dụng nguyên vật liệu không có xuất xứ nội khối nhưng đáp ứng được các yêu cầu về Quy tắc xuất xứ cụ thể từng mặt hàng được quy định trong Hiệp định.

Nói chung, Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng trong FTA Việt Nam – EAEU khá đơn giản, thông thường hàng hóa chỉ cần có hàm lượng giá trị gia tăng – VAC  ≥ 40% (một số có yêu cầu VAC ≥ 50-60%) hoặc có sự chuyển đổi mã HS ở cấp độ 2, 4, 6 số là được hưởng ưu đãi thuế quan. 

Ngoài ra, Hiệp định có quy định về Tỷ lệ không đáng kể (De Minimis) cho phép hàng hóa không đáp ứng được yêu cầu về chuyển đổi mã HS vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan nếu có hàm lượng nguyên liệu không có xuất xứ không vượt quá 10% giá FOB của hàng hóa.

Cùng với việc xóa bỏ thuế quan, Việt Nam cùng các nước thành viên Liên minh kinh tế Á - Âu sẽ triển khai tích cực Chương về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, trong đó có các nội dung về công nhận tương đương đối với các biện pháp hoặc hệ thống quản lý trong lĩnh vực liên quan, công nhận lẫn nhau về các khái niệm về thích ứng với điều kiện khu vực, sử dụng kết quả kiểm toán, thông tin của các tổ chức quốc tế lớn; thúc đẩy hợp tác, triển khai các sáng kiến thuận lợi hóa thương mại và hỗ trợ kỹ thuật và thiết lập cơ chế tham vấn hiệu quả giữa hai bên. Đây là những biện pháp trực tiếp gỡ bỏ các rào cản để hàng hóa của các quốc gia thành viên có thể thâm nhập vào thị trường của nhau một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.

Những nội dung về Sở hữu trí tuệ, Cạnh tranh, Phát triển bền vững... của Hiệp định chủ yếu mang tính hợp tác và không vượt quá những cam kết của Việt Nam trong WTO và tại các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, tạo khung khổ để hai bên có thể xem xét hợp tác sâu hơn khi thấy phù hợp.

L.B