Một số lưu ý về bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ/tỉnh từ năm 2020

Ngày 12/10/2020, Bộ trưởng Bộ TT&TT đã ban hành Quyết định số 1726/QĐ- BTTTT về Phê duyệt Đề án “Xác định Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số (CĐS) của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và của quốc gia”.
09:11 AM 17/12/2020 In bài viết này

Bộ chỉ số CĐS cấp bộ, cấp tỉnh, cấp quốc gia (Digital Index - DTI) để theo dõi, đánh giá một cách thực chất, khách quan và công bằng kết quả thực hiện CĐS hàng năm của các bộ, ngành (gọi chung là các bộ), các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là các tỉnh) và của cả nước trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình CĐS quốc gia.

Bộ chỉ số DTI được xây dựng theo quan điểm gắn liền với mục tiêu, định hướng, quan điểm các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình CĐS quốc gia, tính bản, phù hợp thực tế ý nghĩa đánh giá sát thực, khách quan kết quả thực hiện CĐS hàng năm tại các bộ, các tỉnh

Bộ chỉ số đánh giá được mức độ CĐS của các bộ/tỉnh, đồng thời hình thành kho dữ liệu số sát thực về hoạt động chính phủ số, kinh tế số hội số trên toàn quốc. Bộ chỉ số cũng cố gắng tăng cường các tiêu chí đánh giá theo phương pháp điều tra hội học, phương pháp phân tích sắc thái thông tin trên không gian mạng nhằm tăng cường tính khách quan, trung thực của chỉ số đánh giá.

Bộ chỉ số được cấu trúc theo 3 trụ cột gồm: chính quyền số, kinh tế số hội số. Mỗi trụ cột gồm 7 chỉ số chính: chỉ số đánh giá về chuyển đổi nhận thức, chỉ số đánh giá về kiến tạo thể chế, chỉ số đánh giá về phát triển hạ tầng nền tảng số, chỉ số đánh giá về thông tin dữ liệu số, chỉ số đánh giá về hoạt động CĐS, chỉ số đánh giá về an toàn an ninh mạng, chỉ số đánh giá về đào tạo phát triển nhân lực. Mỗi chỉ số chính những chỉ số thành phần khác nhau trong mỗi chỉ số thành phần các tiêu chí.

Bộ chỉ số cấu trúc 3 cấp: Chỉ số DTI cấp Bộ, Chỉ số DTI cấp tỉnh, Chỉ số DTI quốc gia, trong đó cấp bộ/tỉnh nhằm theo dõi, đánh giá, xếp hạng một cách thực chất, khách quan công bằng kết quả thực hiện CĐS hàng năm các bộ, tỉnh. Chỉ số DTI quốc gia thì không chấm điểm, xếp hạng, nhằm cung cấp thông tin về kết quả CĐS chung của cả nước để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng phục vụ các quan, tổ chức liên quan cũng như cho các tổ chức quốc tế sử dụng khi đánh giá các chỉ số toàn cầu liên quan như EGDI, IDI, GCI, GII.

Những điểm cần lưu ý về chỉ số DTI cấp Bộ/Tỉnh

Chỉ số DTI cấp Bộ 7 chỉ số chính, 41 chỉ số thành phần 111 tiêu chí, trong đó số tiêu chí dựa vào các số liệu, báo cáo thống 109 tiêu chí, đánh giá hội học 2 tiêu chí. Với cấp tỉnh, cũng 7 chỉ số chính, 108 chỉ số thành phần với 306 tiêu chí, trong đó 251 tiêu chí theo điều tra thống hoặc báo cáo 55 tiêu chí theo điều tra hội học.

Chỉ số DTI cấp tỉnh 3 trụ cột: chính quyền số (400 điểm), kinh tế số (300 điểm), hội số (300 điểm). Trong mỗi trụ cột này 3 phương pháp đánh giá: đánh giá theo số liệu báo cáo, thống kê, điều tra (chiếm 80%); đánh giá theo điều tra trên mạng 10% đánh giá theo phỏng vấn chuyên gia 10%. Các chỉ số kinh tế số, hội số cũng tương tự.

Một số lưu ý về bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ/ tỉnh từ năm 2020 - Ảnh 1.

Các chỉ số chính chỉ số nhận thức, gồm 4 chỉ số thành phần với 13 tiêu chí; chỉ số Kiến tạo thể chế thì 4 chỉ số thành phần với 16 tiêu chí; chỉ số Hạ tầng nền tảng số 10 chỉ số thành phần, 28 tiêu chí; chỉ số thông tin dữ liệu số 3 chỉ số thành phần với 16 tiêu chí; chỉ số Hoạt động chính quyền số 16 chỉ số thành phần với 39 tiêu chí; chỉ số An toàn an ninh mạng 5 chỉ số thành phần với 9 tiêu chí; hỉ số Đào tạo kỹ năng, phát triển nhân lực 3 chỉ số thành phần với 13 tiêu chí. Các trụ cột kinh tế số, hội số cũng tương tự.

Cụ thể hơn, trong chỉ số thành phần về chuyển đổi nhận thức, có các nhóm tiêu chí như tuyên truyền, phổ biến về chính quyền số, hay trong các chỉ số kinh tế số, xã hội số, có các yêu cầu như có chuyên mục CĐS trên Trang/Cổng thông tin điện tử (TTĐT) hoặc có chuyên mục CĐS của Đài PTTH, hoặc có tài liệu tuyên truyền cho người dân. Cũng trong chỉ số này, lần đầu tiên đưa ra tiêu chí đánh giá sự quan tâm của người đứng đầu bởi Chương trình CĐS quốc gia nhấn mạnh người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chính về CĐS các bộ/tỉnh và vì vậy, Thủ tướng Chính phủ cũng đã yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh phải là trưởng Ban Chỉ đạo về chính quyền điện tử và CĐS. Chỉ số cũng đưa ra các chỉ số thành phần với tiêu chí đánh giá về người đứng đầu như chủ trì được bao nhiêu cuộc họp hay là các văn bản đã được ban hành, đánh giá về chủ trương, định hướng của Đảng, trong đó đánh giá các Nghị quyết của tỉnh/ thành uỷ cũng như các chủ trương của HĐND về cả 3 trụ cột. Đặc biệt, sẽ có điều tra xã hội học về hiểu biết của CBCNVC đối với CĐS.

Một số lưu ý về bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ/ tỉnh từ năm 2020 - Ảnh 2.

Chỉ số kiến tạo thể chế có nhóm tiêu chí về kế hoạch, chương trình, đề án về CĐS. Trong phần này cũng đánh giá về môi trường pháp lý, chế chính sách về CĐS, đặc biệt nhấn mạnh cho áp dụng công nghệ mới trong chính quyền số, cũng như ban hành, triển khai các kế hoạch, cập nhật định danh, kiến trúc chính quyền điện tử… Phần chỉ số này cũng đề cập đến việc tổ chức, nhân sự chuyên trách về CĐS, CNTT, trong đó giao nhiệm vụ cho Ban chỉ đạo CNTT chỉ đạo công tác CĐS, cũng như giao nhiệm vụ cho Sở TT&TT chủ trì công tác CĐS. Trong Chỉ số kiến tạo thể chế, cũng nhấn mạnh chi cho CNTT trong chiến lược chính phủ số thì đặt mục tiêu mỗi tỉnh không chi không ít hơn 10% trong tổng chi ngân sách của tỉnh cho CNTT, CĐS.

Về chỉ số hạ tầng nền tảng số thì trong chính quyền số đề cập trang bị máy tính, mạng LAN, WAN, Internet. Trong kinh tế số đánh giá về hạ tầng bưu chính, logistics, 4G, cáp quang đến hộ gia đình… trong hội số cũng tương tự, đánh giá hạ tầng xác thực điện tử, chữ điện tử cho người dân, DN. Cũng trong chỉ số này, phần chính quyền số đánh giá IPv6, trong kinh tế số - hội số đánh giá cổng/trang TTĐT, hạ tầng thanh toán số, chữ điện tử nền tảng tích hợp chia sẻ CSDL dùng chung LGSP, trung tâm giám sát an toàn thông tin (ATTT) SOC cũng như điện toán đám mây, nền tảng thanh toán trực tuyến di động.

Về chỉ số thông tin, dữ liệu số sẽ đánh giá về sự sẵn sàng của dữ liệu, trong đó lưu ý đối với các tỉnh về chỉ số có phê duyệt phụ lục danh mục các hạng mục dữ liệu cấp tỉnh. Chỉ số này được xét đánh giá nhằm mục đích làm căn cứ để có mặt bằng chung của dữ liệu của các tỉnh trong việc đánh giá về dữ liệu số. Theo đó, các tỉnh cần quan tâm đến dữ liệu này để thúc đẩy.    

Cũng theo chỉ số này, mức độ sẵn sàng mở dữ liệu của tỉnh sẽ được đánh giá, còn trong hạng mục hội số - kinh tế, chỉ số này được đánh giá qua các hạng mục liên quan đến người dân, doanh nghiệp (DN). Người dân, DN sẽ được đánh giá về mức độ khai thác sử dụng dữ liệu. Việc đánh giá này chủ yếu thông qua điều tra hội học.

Trong chỉ số thông tin dữ liệu, các công cụ phân tích dữ liệu lớn được sử dụng trong CQNN, cũng như thực hiện hiệu quả của dữ liệu hiện CQNN cung cấp cho nhà DN, người dân cũng được đánh giá. Phương pháp đánh giá liên quan đến DN, người dân chủ yếu thông qua điều tra xã hội học.

Về chỉ số đánh giá hoạt động chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, có khá nhiều hoạt động như trong chính quyền số có hoạt động liên quan đến thư điện tử, trong kinh tế số thì có hoạt động phát triển DN công nghệ số hay trong xã hội học có chỉ số đánh giá về sử dụng thiết bị số, truy cập mạng của người dân, hoặc là trong chính quyền số thì có hoạt động quản lý các văn bản điều hành. Trong kinh tế số có các hoạt động về kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT), trong xã hội số thì có sử dụng dịch vụ số, khai thác dịch vụ số của người dân. Ngoài ra, còn đánh giá hoạt động chữ ký điện tử, số, dịch vụ số cơ bản, các nền tảng phục vụ người dân, DN trên địa bàn.

Đánh giá về hệ thống thông tin báo cáo, trong kinh tế số có đánh giá đóng góp của kinh tế số đối với GDP, hoặc doanh thu trong lĩnh vực CNTT. Trong xã hội số có đánh giá người dân sử dụng các ứng dụng CNTT trong nông nghiệp thông minh, xã thông minh và đánh giá các hoạt động 1 cửa điện tử, cổng dịch vụ công (DVC) trực tuyến. Trong kinh tế số, đánh giá doanh thu trong các lĩnh vực.

Một số lưu ý về bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ/tỉnh từ năm 2020 - Ảnh 3.

Theo Cục Tin học hoá, nhiều chỉ số mới được đưa vào chi tiết như chỉ số như DVC phát sinh hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ phát sinh trực tuyến, mức độ hài lòng khi sử dụng DVC. Đây là những vấn đề mới.

Chỉ số thứ 6 là an ninh mạng có các chỉ số về triển khai an toàn an ninh mạng theo mô hình 4 lớp trong chính quyền điện tử. Trong kinh tế số có đánh giá an toàn an ninh mạng trong các DN, cũng như mức độ an toàn tin cậy của người dân, máy tính của người dân.

Đánh giá ATTT cũng được đánh giá ở cả 3 khối chính quyền, người dân, DN. Bên cạnh đó, là đánh giá chỉ số đánh giá hệ thống ATTT theo cấp độ của Nghị định 2016 số 85/2016/NĐ- CP của Thủ tướng Chính phủ, cũng như tốc độ lây nhiễm mã độc, khả năng ứng cứu sự cố sự cố tấn công mạng của cơ quan nàh nước (CQNN), DN, chỉ số về đào tạo, nguồn nhân lực, trong đó có đánh giá về lực lượng chuyên trách về CNTT cũng như đánh giá về đào tạo kỹ năng số trong CQNN.

Trong kinh tế số, còn có đánh giá về nguồn nhân lực công nghệ số kinh doanh số trên địa bàn, cũng như đào tạo nguồn nhân lực công nghệ số của các đơn vị trên địa bàn; đánh giá trình độ giáo dục của người dân cũng như trình độ, kỹ năng số của người dân.

Trong khi đó, theo Cục Tin học hoá, chỉ số DTI cấp Bộ cũng tương tự cấp tỉnh nhưng mỗi Bộ là một lĩnh vực, ngành hẹp, vì vậy, không phân ra chính quyền số, xã hội số, kinh tế số mà mỗi Bộ đều gộp chung lại thành 1 bộ chỉ số chung là cũng có đánh giá theo số liệu điều tra thống kê, đánh giá qua không gian mạng và đánh giá của chuyên gia. Nhưng khác với cấp tỉnh, bởi cấp tỉnh được đánh giá thang điểm là 1000 điểm thì cấp Bộ chỉ dùng thang điểm 500 điểm để tính tương đồng giữa các điểm tiêu chí là hài hoà giữa cấp bộ/tỉnh.

Cấp bộ cũng có chỉ số về nhận thức, trong đó có 3 chỉ số thành phần với 10 tiêu chí. Chỉ số Kiến tạo thể chế có 4 chỉ số thành phần với 17 tiêu chí. Chỉ số Hạ tầng nền tảng số có 8 chỉ số thành phần với 18 tiêu chí. Chỉ số Thông tin và dữ liệu số có 3 chỉ số thành phần với 14 tiêu chí. Chỉ số Hoạt động của CĐS có 16 chỉ số thành phần với 14 tiêu chí. An toàn an ninh mạng 5 chỉ số thành phần với 9 tiêu chí. Chỉ số Đào tạo phát triển nhân lực có 2 chỉ số thành phần với 9 tiêu chí.

Đánh giá chuyển đổi nhận thức cấp bộ được đánh giá theo các tiêu chí về tuyên truyền, phổ biến, quan tâm của người đứng đầu, chủ trương chiến lược về CĐS, chính phủ số, kiến tạo thể chế có kế hoạch, chương trình, đề án về CĐS và chính phủ số, có hành lang pháp lý, chính sách về CĐS. Đặc biệt, theo Cục Tin học hoá, đánh giá DTI cấp Bộ, phần thể chế được nhấn mạnh hơn phần chính sách, đặc biệt là các "sandbox" trong chính sách.

Đánh giá kiến tạo thể chế cấp Bộ cũng có tiêu chí đánh giá nhân sự chuyên trách CNTT, cũng như ngân sách CNTT của Bộ. Về Hạ tầng số, ở cấp Bộ đánh giá về hạ tầng kết nối, ứng dụng IPv6, trung tâm dữ liệu, sử dụng điện toán đám mây, cũng như nền tảng tích hợp dữ liệu cấp Bộ LGSP. Trung tâm giám sát điều hành an toàn an ninh mạng, nền tảng thanh toán trực tuyến cũng được đánh giá.

Về chỉ số thông tin, dữ liệu số ở cấp bộ có đánh giá về sự sáng tạo của dữ liệu có nghĩa là các CSDL trong ngành, cấp quốc gia do Bộ chủ trì, kết nối chia sẻ dữ liệu cũng như là dữ liệu mở, sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu lớn.

Về chỉ số hoạt động CĐS cấp bộ đánh giá về sử dụng thư điện tử, hệ thống quản lý văn bản điều hành, chữ ký điện tử, chữ ký số, các ứng dụng cơ bản, hệ thống báo cáo, hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến. Phần lớn nội dung này các Bộ đã đạt nhưng một số đơn vị cũng cần phải đánh giá tiếp.

Về hoạt động CĐS còn có hoạt động kiểm tra qua môi trường số, hệ thống 1 cửa điện tử, cổng DVC, tỷ lệ DVC trực tuyến, tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Bên cạnh đó, đánh giá mức độ hài lòng DVC khi sử dụng DVC của người dân đối với các Bộ và việc thực hiện tiếp nhận, trả kết quả qua cũng như tiếp nhận, trả kết quả TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích cũng như Cổng TTĐT cũng như sự tham gia của người dân, DN đối với Cổng TTĐT của Bộ.

Về ATTT mạng, đánh giá về triển khai mô hình 4 lớp để bảo vệ hệ thống thông tin theo cấp độ, mức độ lây nhiễm mã độc, tỷ lệ xử lý tấn công mạng, tỷ lệ nâng cao năng lực ứng cứu sự cố. Về nhân lực, đào tạo kỹ năng, có đánh giá về năng lực cán bộ chuyên trách CNTT, đào tạo kỹ năng số.

Theo Cục Tin học hoá, với các số liệu thu thập được từ đánh giá cấp Bộ, tỉnh, sẽ được tổng hợp để đưa thành chỉ số CĐS quốc gia cũng theo 3 trụ cột. Tuy nhiên, ở cấp quốc gia không có xếp hạng.

Triển khai, đánh giá trong thời gian tới

Cũng theo Cục Tin học hoá, việc triển khai đánh giá CĐS cấp bộ/tỉnh sẽ thực hiện theo 2 lớp, tức là các bộ/tỉnh sẽ tự tập hợp dữ liệu, đánh giá chỉ số của mình theo hướng dẫn thang điểm do Bộ TT&TT cung cấp. Bộ TT&TT cũng dựa trên báo cáo của các bộ/tỉnh để đưa ra xác thực, thẩm định của mình để đếm sai số để điều chỉnh và sẽ có điểm số do Bộ TT&TT chấm. Sau đó, Bộ TT&TT sẽ tổng hợp lại theo tỷ lệ để đưa ra chỉ số chung.

Ngoài ra, việc đánh giá còn được đo lường trên không gian mạng chiếm 10%, đánh giá của chuyên gia chiếm 10%. Cục Tin học hoá sẽ triển khai 1 Cổng TTĐT để các bộ/tỉnh nhập dữ liệu thay cho nhập dữ liệu bản giấy được gửi lên cho Bộ TT&TT như trước đây. Ở các bộ/tỉnh sẽ được cấp 2 tài khoản (tài khoản của chuyên viên nhập dữ liệu theo các chỉ số đánh giá và tài khoản của lãnh đạo được giao phụ trách duyệt dữ liệu cho nhân viên nhập dữ liệu và được gửi đến Cục Tin học hoá). Cục Tin học hoá sẽ thành lập Hội đồng để đánh giá các chỉ số này và Hội đồng có cử đại diện theo từng nhánh kinh tế số, chính phủ số, xã hội số theo từng trục. Hội đồng có các tổ công tác để theo dõi các chỉ số này, xác minh để đảm bảo các con số này không có sai sót và sẽ đưa vào hệ thống. Bộ TT&TT cũng sẽ có bộ phận xác thực thông tin, có những thông tin có thể kiểm soát được qua hệ thống giám sát CPĐT của Bộ TT&TT, cũng như Trung tâm giám sát an toàn không gian mạng của Bộ.

Những thông tin sẽ được xác thực lại, điều chỉnh đưa vào hệ thống và chấm điểm riêng theo quan điểm của Bộ. Quan điểm các Sở TT&TT tự chấm là quan điểm riêng và sẽ có tỷ lệ tính toán các thông tin này. Cuối cùng, Hội đồng sẽ có tổng hợp các số liệu từ điều tra xã hội học, trên mạng và từ phỏng vấn chuyên gia để có một đánh giá chung tổng thể và Hội đồng quyết định điểm chung cho từng tiêu chí. Hội đồng cũng sẽ quyết định công bố điểm này trên hệ thống, các bộ/tỉnh thì có thể vào hệ thống để biết được xếp hạng. Việc đánh giá này không chỉ đánh giá 1 năm/lần. Hội đồng có thể đánh giá hàng quý nếu các bộ, tỉnh có số liệu cập nhật thì hàng quý xếp hạng cũng sẽ thay đổi. 

Cục Tin học hoá cho biết: Bộ chỉ số này sẽ được triển khai đánh giá từ năm 2020 để đến tháng 4/2021 dự kiến công bố. Cục Tin học hoá mong muốn các đơn vị chuyên trách CNTT các Bộ, các Sở TT&TT nghiên cứu chi tiết Bộ chỉ số này không phải chỉ để đánh giá mà còn khi xây dựng chương trình, kế hoạch CĐS của bộ/tỉnh có thể nghiên cứu Bộ chỉ số để đưa các nội dung liên quan phù hợp vào trong các kế hoạch thực hiện để thăng hạng chỉ số của bộ/tỉnh mình.

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 15+16 tháng 11/2020)

LP
Xem thêm