Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với CMCN 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam

Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và thay đổi đáng kể mọi mặt của đời sống kinh tế xã. Để thực hiện thành công CMCN 4.0, nhiều nước trên thế giới đã chuẩn nguồn lực cần thiết để thể ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất và quản lý xãhội cũng như thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo, làm chủ các công nghệ, tạo ra giá trị gia tăng mới và tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
09:11 AM 04/09/2020 In bài viết này

Hòa chung vào cuộc CMCN 4.0 của thếgiới, Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến mới trong lĩnh vực này, tuy nhiên, trong tương quan với các nước trên thế giới được đánh giá theo các chỉ số quốc tế và xét theo từng khía cạnh, mức độ sẵn sàng của Việt Nam cho cuộc cách mạng này còn khá hạn chế. 

Theo báo cáo của Bộ Công Thương Việt Nam và UNDP năm 2019, có tới 61% doanh nghiệp Việt Nam hiện còn đứng ngoài CMCN 4.0 và 21% doanh nghiệp mới bắt đầu có các hoạt động chuẩn bị đầu tiên. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin (CNTT) vốn được kỳ vọng là khu vực đi đầu, dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế bắt nhịp và hội nhập vào CMCN 4.0 vẫn đang loay hoay trong việc thích ứng với CMCN 4.0. 

Do đó, xây dựng mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với CMCN 4.0 là một công việc cần thiết nhằm nhận biết, lượng hóa những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh và có những chính sách và hoạt động cần thiết nhằm chủ động tham gia vào CMCN 4.0. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cũng sẽ có đầy đủ thông tin để xây dựng chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp.

Các mô hình hiện có trên thế giới và tại Việt Nam

Đến nay, đã có rt nhiều mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng vi CMCN 4.0 đưc nghiên cứu và công bố, các mô hình này đánh giá mức độ sẵn sàng cả trên quy mô toàn quốc gia hay quy mô của các doanh nghip/tổ chức và đánh giá theo mức độ tổng thể hay theo mt yếu tố nền tảng/công nghệ cụ thể.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 1.

Trong các mô hình ở Bảng 1, có 2 mô hình đưc ứng dụng tương đối phổ quát, đó là Mô hình Tham chiếu kiến trúc công nghip 4.0 (RAMI 4.0) và Mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng cho công nghip 4.0 (VDMA).

Năm 2017, Ban Phát triển Kinh tế của Singapore (EDB) vi sự trợ giúp của Tập đoàn TÜV SÜD của CHLB Đức đã da trên Mô hình RAMI 4.0 xây dng Mô hình Chỉ số sẵn sàng cho Công nghip thông minh của Singapore để tiến hành đánh giá cho 300 doanh nghip (bao gồm các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghip nhỏ và vừa - SME), nhằm giúp cho các doanh nghip sản xut hiểu rõ hơn về nguyên lý của CMCN 4.0, qua đó các doanh nghip có thể đánh giá đưc hin trạng thích ứng vi CMCN 4.0 và có thể đưa ra chiến lưc lộ trình chuyển đổi phù hp. 

Mô hình Chỉ số sẵn sàng cho Công nghip thông minh của Singapore đưc đánh giá trên 3 khối: Tiến trình, Công nghệ và Tổ chức. Da trên 3 khối cơ bản này, mô hình triển khai trên 8 trụ ct (Tiến trình: Điều hành, Chuỗi cung ứng, Vòng đi sản phẩm; Công ngh: Tự đng hóa, Kết nối, Thông minh; Tổ chức: Nhân tài, Cu trúc và quản lý), và tiếp theo trên 16 chiều (Tích hp ngang; Tích hp dọc; Tích hp vòng đi sản phẩm; ma trận 3x3 về Tự đng hóa, Kết nối và Thông minh x Gian hàng sản phẩm, Doanh nghip, Công xưng; Lc lưng lao đng học tập và phát triển; Năng lc lãnh đạo; Hp tác trong và ngoài doanh nghip; Chiến lưc và quản trị).

Tại Vit Nam, Bộ Công Thương cũng đã phối hp vi UNDP triển khai mô hình của VDMA trong năm 2019, trong đó tiến hành khảo sát, đánh giá 2.700 doanh nghip công nghip (thuc 18 ngành, trong đó có ngành sản xut đin tử) của Vit Nam. Xét về tổng thể, mô hình đánh giá mức độ doanh nghip tham gia CMCN 4.0 trên 6 trụ ct: Chiến lưc và tổ chức (vi các chiều: Chiến lưc, Tính đầy đủ của chỉ số đo lưng kết quả thc hin chiến lưc, Đầu tư cho đổi mi công ngh, Quản lý đổi mi sáng tạo); Nhà máy thông minh (vi các chiều: Tính năng kiểm soát, Kết nối của các thiết bị, Mức độ đáp ứng nhu cầu kết nối của thiết bị, Mô hình quản lý kỹ thuật số, Cách thức thu thập dữ liu, Mục đích sử dụng dữ liu, Mức độ bao phủ của hệ thống công nghệ thông tin); Vận hành thông minh (vi các chiều: Chia sẻ thông tin, Tự đng hóa, Quá trình tự chủ, Bảo mật thông tin, và Sử dụng công nghệ đin toán đám mây); Sản phẩm thông minh (vi các chiều: Phân tích dữ liu trong quá trình sử dụng, Tính năng CNTT bổ sung); Dịch vụ da trên dữ liu (vi các chiều: Dịch vụ tích hp số liu sản xut và sử dụng sản phẩm, Dịch vụ da trên dữ liu); Ngưi lao đng (vi các chiều: Kĩ năng của lao đng, Cách nm bt kĩ năng).

Mặc dù ở các quy mô khác nhau, nhưng các mô hình đưc đề cập ở trên đánh giá chủ yếu qua các góc đ: Môi trưng chính sách, hạ tầng, năng lc sáng tạo, nhân lc… Tuy nhiên, có thể thy, các mô hình RAMI 4.0 hay VDMA đều là nhng mô hình phù hp vi các doanh nghip sản xut. Mô hình Đánh giá mức độ sẵn sàng cho công nghip 4.0 của VDMA đã đưc áp dụng bởi Bộ Công Thương và đã cung cấp những thông tin rất bổ ích về mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó  có các doanh nghiệp điện tử, tin học. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp viễn thông, CNTT hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, cung cấp sản phẩm phi vật chất (phần mềm…), việc đánh giá theo khuôn khổ mức độ sẵn sàng của các doanh nghiệp sản xuất chưa thực sự phù hợp.

Đồng thi, CMCN 4.0 về bản cht là mt cuc cách mạng về công ngh, vi nhng công nghệ nền tảng như IoT, Big data, AI… Yêu cầu đối vi từng công nghệ riêng rẽ về vốn đầu tư, hạ tầng, nguồn nhân lc, chính sách thúc đẩy sẽ có nhng đặc thù khác nhau. Do đó, vic đánh giá mức độ sẵn sàng theo từng công nghệ sẽ rt cần thiết để doanh nghip và các cơ quan nhà c có thể có đưc nhng chính sách có trọng tâm, trọng điểm, phù hp vi bối cảnh cụ thể của doanh nghip và tình hình chung của cả nưc.

Ngoài ra, đối vi riêng ngành Thông tin vàTruyền thông, hin đang triển khai 2 mô hình "Đánh giá xếp hạng mức độ ứng dụng CNTT của các tỉnh, thành phố trc thuc Trung ương" và "Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT&TT Vit Nam". Tuy nhiên, 2 mô hình trên không thể đáp ứng đưc nhu cầu đánh giá mức độ sẵn sàng vi CMCN 4.0 của các doanh nghip viễn thông, CNTT. Vì vậy, mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng vi CMCN 4.0 của các doanh nghip viễn thông, CNTT Vit Nam cần đưc nghiên cứu, xây dng bằng cách kết hp các mô hình quốc tế sẵn có, và đưc tùy biến mt cách hp lý, nhằm đáp ứng đưc các yêu cầu đặt ra.

Đề xuất mô hình cho Việt Nam

Để bảo đảm đưc yêu cầu là mt công cụ để doanh nghip có thể nhận biết đưc rõ ràng, sâu sc về nhng điểm yếu, điểm mạnh của mình, cũng như là mt công cụ của các cơ quan nhà c trong hoạch định chính sách, mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng của các doanh nghip viễn thông, CNTT Vit Nam thích ứng vi CMCN 4.0 cần đưc xây dng trên 5 trụ ct: Chiến lưc - chính sách; Hạ tầng; Nhân lc; Ứng dụng; Đổi mi - sáng tạo.

Đây cũng là nhng điểm nghẽn của các doanh nghip nói riêng (trong đó có doanh nghip viễn thông, CNTT), cũng như của cả nưc nói chung đã đưc xác định tại các nghiên cứu, khảo sát trưc (Bộ Công Thương Vit Nam và UNDP, 2019; World Economic Forum, 2018…). Các trụ ct đưc đưa vào mô hình đánh giá cũng là nhng đt phá chiến lưc đã đưc xác định tại các văn kin của Đảng và Nhà c trong vic chủ đng tham gia vào CMCN 4.0.

Vi cách tiếp cận này, tác giả đề xut ma trận đánh giá mức độ sẵn sàng thích ứng vi CMCN 4.0 của các doanh nghip viễn thông, CNTT Vit Nam như Bảng 3 đến Bảng 8.

Trong đó, nhóm chỉ số sẽ đưc phân theo các công nghệ nền tảng của CMCN 4.0: 5G, IoT, Dữ liu ln, Trí tuệ nhân tạo, An toàn thông tin. Tại mỗi nhóm chỉ số sẽ có nhng chỉ số thành phần da trên các trụ ct đánh giá: Chiến lưc – chính sách, Hạ tầng, Nhân lc, Ứng dụng, Đổi mi – sáng tạo.

Phương pháp tính điểm:

i) Chuẩn hóa điểm số

Do các chỉ số thành phần có thứ nguyên khác nhau, nên điểm số của từng chỉ số thành phần sẽ đưc chuẩn hóa theo phương pháp tối thiểu-tối đa (min-max):

- Đối vi các chỉ số có giá trị (1,0): x = (x - Min(x)) / (Max(x) - Min(x))*10

- Đối vi các chỉ số có giá trị (%): x = (x - Min(x)) / (Max(x) - Min(x))*100

- Đối vi các chỉ số có giá trị từ 1-10: x = (x - Min(x)) / (Max(x) - Min(x))

Trong đó, Min(x) and Max(x) là nhng giá trị thp nht và cao nht của từng chỉ số thành phần trong mẫu điều tra. Phương pháp này sẽ quy đổi giá trị của tt cả các chỉ số thành điểm số theo đơn vị từ 0 đến 10. Đây là phương pháp chuẩn hóa điểm số thưng đưc dùng trong các mô hình chỉ số sẵn sàng cho CMCN 4.0 (Bộ Công Thương Vit Nam và UNDP, 2019; World Economic Forum, 2018)…

ii) Phương pháp tính tổng điểm

Các điểm số thành phần đưc quy đổi sau đó đưc tổng hp để đưa tính điểm tổng vi phương pháp tổng bình quân. Trọng số đưc gán cho các nhóm chỉ số là bằng nhau.

Kết luận

Mô hình đề xut mang tính khung, tổng quát, có thể sẽ chưa phù hp vi đánh giácụ thể toàn bộ các doanh nghip viễn thông, CNTT do quy mô, loại hình các doanh nghip là rt khác nhau. Tuy nhiên, nhng kết quả đầu ra của mô hình có thể đưc dự phòng như sau:

- Đối vi các doanh nghip: Mô hình sẽ cung cp bức tranh toàn cảnh về năng lc thích ứng vi CMCN 4.0, cũng như về điểm yếu, điểm mạnh trong từng lĩnh vc, từng nền tảng công nghệ cụ thể. Vi nhng thông tin này, doanh nghip có thể sử dụng để có nhng chính sách và hành đng thiết thc nhằm nâng cao năng lc của bản thân để từng bưc thích ứng và chủ đng gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu trong kỷ nguyên của CMCN 4.0;

- Đối vi các cơ quan nhàc: Chủ đng tham gia, nâng cao năng lc tiếp cận CMCN 4.0 là nhng chính sách ln và đúng đn của Đảng vàNhàc. Đến nay, BThông tin vàTruyền thông đã rt tích cc có nhiều hành đng nhằm thc hin, cụ thể hóa các chủ trương tại Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tưng Chính phủ. Tuy nhiên, điểm yếu - điểm mạnh của các doanh nghip viễn thông, CNTT trong CMCN 4.0 ra sao? Chính sách cần tập trung có trọng tâm, trọng điểm vào nhng lĩnh vc cụ thể như thế nào?... là nhng câu hỏi cần đặt ra, và không dễ trả li. Để trả li đưc nhng câu hỏi này, trong tương lai cần có nghiên cứu chuyên sâu, triển khai thc nghim nhằm rút kinh nghim và có nhng điều chỉnh phù hp sẽ phần nào đó trả li đưc nhng câu hỏi cốt yếu nêu trên.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 2.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 3.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 4.

 

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 5.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 6.

Đề xuất mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng với cách mạng công nghiệp 4.0 của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ Việt Nam - Ảnh 7.

 Tài liệu tham khảo

1 Application-Centric Infrastructure - Là một kiến trúc trung tâm dữ liệu mới được thiết kế để giải quyết các yêu cầu của các mạng truyền thống hiện nay, cũng như để đáp ứng nhu cầu phát sinh mà các xu hướng điện toán mới và các yếu tố kinh doanh được triển khai trên mạng.

2 Self-provisioning portal - Là hệ thống cho phép người sử dụng dịch vụ cuối có thể tự cài đặt và chạy ứng dụng và dịch vụ mà không cần sự can thiệp/hỗ trợ của chuyên viên IT hay nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây.

3 Trong điện toán đám mây, container là giải pháp đóng gói phần mềm và các cấu phần liên quan để phần mềm có thể chạy một cách đáng tin cậy khi được chuyển từ môi trường máy tính này sang môi trường máy tính khác.

4 Trong điện toán đám mây, container là giải pháp đóng gói phần mềm và các cấu phần liên quan để phần mềm có thể chạy một cách đáng tin cậy khi được chuyển từ môi trường máy tính này sang môi trường máy tính khác.

(Bài đăng ấn phẩm inTạp chí TT&TT Số 9+10 tháng 8/2020)

Nguyễn Khánh Dương, Đồng Hoàng Vũ
Xem thêm