Các công ty logistic của Việt Nam vẫn còn nhỏ mặc dù có nhiều tiềm năng

Gia Bảo| 10/08/2019 18:03
Theo dõi ICTVietnam trên

Bộ Công thương cho biết trong một báo cáo của Bộ: Có 4.000 doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực hậu cần nhưng hầu hết trong số đó là quy mô nhỏ với chất lượng nguồn nhân lực yếu.

Theo báo cáo, các doanh nghiệp hậu cần Việt Nam chủ yếu hoạt động ở quy mô nhỏ, có tới 90% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng (tương đương 429.922 đô la Mỹ) (thấp hơn vốn đăng ký trung bình của các doanh nghiệp), 1% doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng, 1% doanh nghiệp có vốn từ 50 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng, 3% có vốn từ 20 đến 50 tỷ đồng và 5% doanh nghiệp có vốn từ 10 đến 20 tỷ đồng.

Có tới 2.000 doanh nghiệp hậu cần là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Chỉ có 400 doanh nghiệp đã tham gia Hiệp hội doanh nghiệp hậu cần Việt Nam (VLA - Vietnam Logistics Business Association).

Theo thống kê của VLA, các doanh nghiệp thành viên chiếm hơn 60% thị phần quốc gia, bao gồm nhiều doanh nghiệp hàng đầu trong ngành. Các doanh nghiệp hậu cần hàng đầu hiện nay bao gồm SNP, Gemadept, Transimex, IndoTrans, TBS Logistics, Sai Gon New Port, Delta, U&I Logistics, Sotrans và Minh Phương Logistics, đều là thành viên của VLA. Các doanh nghiệp này cung cấp dịch vụ cho tất cả các thị trường chiến lược của Việt Nam.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hậu cần còn khiêm tốn và chủ yếu tập trung vào vấn đề khai báo hải quan và giám sát, quản lý phương tiện. Tuy nhiên, các doanh nghiệp và trung tâm hậu cần đang nỗ lực đổi mới hoạt động của mình. Ngoài các chức năng chính là bảo quản, dán nhãn, đóng gói, tách, xử lý hàng hóa và chuẩn bị đơn đặt hàng, các trung tâm hậu cần đang áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và theo dõi hàng hóa, cũng như truy cập vị trí.

Một số trung tâm hậu cần chuyên ngành gần như tự động hóa như trung tâm hậu cần của Samsung, Unilever, P&G, Vinamilk và Masan. Các trung tâm hậu cần lớn hiện đang tập trung tại Hải Phòng, Đồng Nai và Bình Dương, áp dụng các hệ thống quản lý hiện đại của Gemadept, TBS, Sai Gon New Port, Transimex, Mapletree, Damco, DHL, Kerry Express và Viettel Post.

Sự hạn chế trong việc kết nối

Đáng chú ý, có 45 trung tâm hậu cần tại 9 tỉnh, thành phố của Việt Nam, nhưng hầu hết trong số đó là trung tâm hậu cần hạng hai (cấp khu vực), và chưa được phát triển theo định hướng phát triển thành trung tâm hạng nhất (cấp quốc gia).

Sự kết nối giữa các phương thức vận tải là một hạn chế lớn, đẩy chi phí hậu cần tăng lên. Sự kết nối được thể hiện rõ ràng trên các hành lang giao thông chính, với trọng tâm là kết nối đường sắt và đường thủy nội địa với cảng biển, trung tâm đô thị và trung tâm sản xuất.

Theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, báo cáo của Bộ Công thương đã giúp Chính phủ đưa ra một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực hậu cần hiện nay tại Việt Nam. Đây là những dữ liệu quan trọng để phát triển ngành công nghiệp này, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại trong nước cũng như xuất khẩu hàng hóa.

Dữ liệu của VLA cho thấy, cùng với tốc độ tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu, giá trị bán lẻ hàng hóa, dịch vụ vận tải và cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây, dịch vụ hậu cần của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao từ 12 đến 14%, tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ hậu cần là khoảng 60 - 70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP của đất nước.

Với báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2018, chỉ số hiệu quả hậu cần (LPI - Logistics performance index) của Việt Nam được xếp hạng 39 trên 160, tăng 25 bậc so với năm 2016 và xếp thứ ba trong các nước ASEAN.

Theo báo cáo, các doanh nghiệp hậu cần Việt Nam chủ yếu hoạt động ở quy mô nhỏ, có tới 90% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng (tương đương 429.922 đô la Mỹ) (thấp hơn vốn đăng ký trung bình của các doanh nghiệp), 1% doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng, 1% doanh nghiệp có vốn từ 50 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng, 3% có vốn từ 20 đến 50 tỷ đồng và 5% doanh nghiệp có vốn từ 10 đến 20 tỷ đồng.

Có tới 2.000 doanh nghiệp hậu cần là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Chỉ có 400 doanh nghiệp đã tham gia Hiệp hội doanh nghiệp hậu cần Việt Nam (VLA - Vietnam Logistics Business Association).

Theo thống kê của VLA, các doanh nghiệp thành viên chiếm hơn 60% thị phần quốc gia, bao gồm nhiều doanh nghiệp hàng đầu trong ngành. Các doanh nghiệp hậu cần hàng đầu hiện nay bao gồm SNP, Gemadept, Transimex, IndoTrans, TBS Logistics, Sai Gon New Port, Delta, U&I Logistics, Sotrans và Minh Phương Logistics, đều là thành viên của VLA. Các doanh nghiệp này cung cấp dịch vụ cho tất cả các thị trường chiến lược của Việt Nam.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực hậu cần còn khiêm tốn và chủ yếu tập trung vào vấn đề khai báo hải quan và giám sát, quản lý phương tiện. Tuy nhiên, các doanh nghiệp và trung tâm hậu cần đang nỗ lực đổi mới hoạt động của mình. Ngoài các chức năng chính là bảo quản, dán nhãn, đóng gói, tách, xử lý hàng hóa và chuẩn bị đơn đặt hàng, các trung tâm hậu cần đang áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và theo dõi hàng hóa, cũng như truy cập vị trí.

Một số trung tâm hậu cần chuyên ngành gần như tự động hóa như trung tâm hậu cần của Samsung, Unilever, P&G, Vinamilk và Masan. Các trung tâm hậu cần lớn hiện đang tập trung tại Hải Phòng, Đồng Nai và Bình Dương, áp dụng các hệ thống quản lý hiện đại của Gemadept, TBS, Sai Gon New Port, Transimex, Mapletree, Damco, DHL, Kerry Express và Viettel Post.

Sự hạn chế trong việc kết nối

Đáng chú ý, có 45 trung tâm hậu cần tại 9 tỉnh, thành phố của Việt Nam, nhưng hầu hết trong số đó là trung tâm hậu cần hạng hai (cấp khu vực), và chưa được phát triển theo định hướng phát triển thành trung tâm hạng nhất (cấp quốc gia).

Sự kết nối giữa các phương thức vận tải là một hạn chế lớn, đẩy chi phí hậu cần tăng lên. Sự kết nối được thể hiện rõ ràng trên các hành lang giao thông chính, với trọng tâm là kết nối đường sắt và đường thủy nội địa với cảng biển, trung tâm đô thị và trung tâm sản xuất.

Theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, báo cáo của Bộ Công thương đã giúp Chính phủ đưa ra một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực hậu cần hiện nay tại Việt Nam. Đây là những dữ liệu quan trọng để phát triển ngành công nghiệp này, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại trong nước cũng như xuất khẩu hàng hóa.

Dữ liệu của VLA cho thấy, cùng với tốc độ tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu, giá trị bán lẻ hàng hóa, dịch vụ vận tải và cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây, dịch vụ hậu cần của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao từ 12 đến 14%, tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ hậu cần là khoảng 60 - 70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP của đất nước.

Với báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2018, chỉ số hiệu quả hậu cần (LPI - Logistics performance index) của Việt Nam được xếp hạng 39 trên 160, tăng 25 bậc so với năm 2016 và xếp thứ ba trong các nước ASEAN.

Nổi bật Tạp chí Thông tin & Truyền thông
Đừng bỏ lỡ
Các công ty logistic của Việt Nam vẫn còn nhỏ mặc dù có nhiều tiềm năng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO