Truyền thông

Tiền đâu để truyền thông chính sách?!

PGS. TS. Bùi Chí Trung, Phó Viện trưởng - Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 31/12/2023 07:05

Truyền thông chính sách (TTCS) là khâu quan trọng trong quá trình ban hành chính sách. Với phương châm truyền thông phải “đi trước” để thống nhất nhận thức, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, từ đó kịp thời phát hiện và xử lý hiệu quả đối với những xu hướng thông tin sai lệch bản chất, không có lợi cho sự phát triển của đất nước.

Tóm tắt:
Nhiều khó khăn đặt ra khi thực hiện hoạt động TTCS trong đó có khó khăn thiếu ngân sách.
Tháo gỡ vướng mắc về kinh phí cho TTCS:
+ Tăng kinh phí cho TTCS.
+ Tập trung ngân sách cho các cơ quan báo chí chủ lực.
+ Thay đổi nhận thức về cơ chế “đặt hàng” báo chí.
+ Huy động các kênh truyền thông để TTCS.

Điều này nói lên vai trò hết sức quan trọng của TTCS trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, để có thể “đi trước”, “đi đúng” và “đi thuận lợi”, yếu tố cơ bản và cũng là nút thắt hiện nay cho hoạt động truyền thông chính sách luôn là vấn đề kinh phí.

Nhìn thẳng vào khó khăn “đầu tiên”

Phần lớn các cơ quan báo chí hiện nay đều là đơn vị tự chủ về tài chính và không có kinh phí thường xuyên từ ngân sách, cũng không có đặt hàng từ ngân sách. Nguồn thu chủ yếu từ các cơ quan báo chí là dựa vào thị trường quảng cáo, tuy nhiên, điều này cũng tạo ra xu thế trở thành báo chí thị trường nếu không có định hướng kiên định rõ ràng.

Theo logic, nếu đã chạy theo thị trường và lợi nhuận thì nhiệm vụ truyền thông sẽ không còn nhận được sự quan tâm ưu tiên như vốn có. Theo phân tích của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TTT) Nguyễn Mạnh Hùng thì: “Nếu gộp lại cả báo đài tự chủ và chưa tự chủ tài chính thì ngân sách nhà nước (NSNN) chỉ chiếm 23% tổng chi thường xuyên của báo đài, 77% còn lại là do báo, đài thu từ dịch vụ. Tức là, cái “dạ dày” của báo chí đang được thị trường nuôi tới 77%” [1].

Những vướng mắc của mô hình kinh tế báo chí hiện nay là rào cản lớn đối với hoạt động TTCS. Nguồn thu lớn nhất của báo chí từ “chiếc bánh” quảng cáo đang ngày một suy giảm. Đối với các báo điện tử, thị phần 80% quảng cáo trực tuyến đã mất vào tay các nền tảng xuyên biên giới và nền tảng mạng xã hội (MXH) trực tuyến. Còn nếu xét toàn bộ thị trường quảng cáo trên các loại phương tiện truyền thông thì báo chí chỉ còn 40% [2]. Đặc biệt, với các cơ quan báo chí được giao tự chủ tài chính nhóm 1, nhóm 2 theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 60/2021/NĐ-CP).

Trên thực tế, vẫn có những “nguồn này, nguồn kia” cho một vài tuyến bài, một số nội dung cần kíp cho các đợt cao điểm nhất định; tuy nhiên, với mức NSNN thì eo hẹp, chắc chắn nguồn ngân sách có thể chưa đủ hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu mong muốn. Và rõ ràng, nếu đặt ra một kỳ vọng cho những tác phẩm chất lượng cao, những mô hình truyền thông sáng tạo hoặc đột phá thì đó lại là điều không tưởng. “Cái khó một lần nữa lại bó cái khôn”!.

Để giải quyết bài toán những vướng mắc về hoạt động kinh tế báo chí và những chính sách, pháp luật về báo chí, đặc biệt là thay đổi tư duy quản lý báo chí hiện nay cần có sự thay đổi từ nhiều bên liên quan. Thế nhưng, không chỉ thiếu “tiền mặt”, báo chí còn thiếu cả dữ liệu, thiếu cả thông tin để tạo ra sản phẩm nội dung (như một sản phẩm hàng hoá) để từ đó có kinh phí cho TTCS.

Lãnh đạo cao nhất của Bộ TT&TT thẳng thắn nêu ra rằng: “Báo chí khi làm tuyên truyền thì thiếu thông tin từ chính quyền, cũng thiếu cả việc đặt hàng từ chính quyền, tức là báo chí thiếu cả thông tin và ngân sách để làm tuyên truyền” [3].

Những điểm mới đáng lưu ý về ngân sách cho báo chí

Một trong những bước đổi mới về ngân sách cho công tác TTCS chính là định hướng của Bộ TT&TT trong việc đề nghị các cơ quan chủ quản quan tâm chỉ đạo hoạt động báo chí, bố trí tăng nguồn kinh phí trong năm 2023 và bố trí tăng dự toán kinh phí năm 2024 cho công tác thông tin tuyên truyền [4]. Chú trọng nhiệm vụ TTCS cho các cơ quan báo chí trực thuộc, gắn với các chương trình, kế hoạch và chiến lược trung hạn, dài hạn.

Thông qua việc thúc đẩy gắn kết giữa báo chí với hoạt động chuyên môn của từng lĩnh vực kinh tế xã hội không chỉ nhằm thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin thiết yếu và truyền thông chính sách, đảm bảo thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích được cấp phép và thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP.

“Báo chí khi làm tuyên truyền thì thiếu thông
tin từ chính quyền, cũng thiếu cả việc đặt hàng
từ chính quyền, tức là báo chí thiếu cả thông
tin và ngân sách để làm tuyên truyền”

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng

Những vướng mắc trong quá trình giao nhiệm vụ, đặt hàng cơ quan báo chí thực hiện TTCS cũng đang từng bước được tháo gỡ. Về thẩm quyền giao nhiệm vụ, đặt hàng cơ quan báo chí đã được Chính phủ quy định trên cơ sở nguyên tắc đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công (DVC): “Các Bộ, cơ quan Trung ương hoặc cơ quan quản lý trực thuộc được ủy quyền quyết định giao nhiệm vụ, đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; đặt hàng (hoặc giao nhiệm vụ trong trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định) đối với nhà cung cấp dịch vụ sự nghiệp công khác; nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích hoặc tổ chức đấu thầu theo quy định từ nguồn ngân sách Trung ương”... [5].

Việc đặt hàng cơ quan báo chí trực thuộc trong hoạt động thông tin, tuyên truyền đã được quy định tại Điều 12 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP. Theo đó, một trong các điều kiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN là: “Danh mục dịch vụ sự nghiệp công có định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp công do cơ quan có thẩm quyền ban hành làm cơ sở để đặt hàng” [6].

Để hướng dẫn thực hiện Nghị định 32, Bộ T&TT đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT ngày 30/11/2021, ban hành định mức kinh tế kỹ thuật hoạt động báo in, báo điện tử. Thông tư quy định mức hao phí tối đa (về thời gian lao động, khối lượng vật tư và thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trực tiếp sản xuất tác phẩm báo in, báo điện tử) để các cơ quan báo chí dựa vào đó xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật của mình trình cơ quan chủ quản ban hành quyết định định mức cụ thể cho cơ quan báo chí phù hợp với điều kiện thực tế về mô hình tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ, trình độ ứng dụng công nghệ, địa bàn hoạt động, v.v..

Trên thực tế, có nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành được định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí, giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN cho sản phẩm báo chí tuyên truyền thì sẽ “được xác định theo quy định của pháp luật về giá hoặc mức bình quân chi phí hợp lý, hợp lệ thực hiện của 3 năm trước liền kề” [7].

Bên cạnh đó, khó khăn, vướng mắc còn thể hiện ở khung quy định về định mức kinh tế kỹ thuật hiện nay chỉ là giới hạn cơ bản và khó đạt được mặt bằng chung của thị trường truyền thông đối với các sản phẩm chất lượng cao. Định mức cũng khó có thể thay đổi, thường xuyên theo biến động thời giá, cũng như khó bao quát hết tất cả các loại hình báo chí, các sản phẩm truyền thông trên các hạ tầng công nghệ mới (new-media).

Mỗi cơ quan báo chí hoạt động theo từng lĩnh vực với những đặc thù riêng. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan chủ quản cần quyết liệt chỉ đạo các cơ quan báo chí trực thuộc khẩn trương xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật đặc thù của mình trình cơ quan chủ quản ban hành quyết định định mức cụ thể, tạo khung khổ triển khai các nhiệm vụ báo chí truyền thông và TTCS trong tình hình mới.

images1719864_1.jpeg
Ảnh minh họa. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Một số khuyến nghị về nâng cao nguồn lực tài chính cho TTCS

Đổi mới cách nghĩ, cách làm về TTCS, trước tiên phải đổi mới cơ chế tài chính, ngân sách cho hoạt động này. Trên cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, chúng tôi đề xuất 6 hướng gợi mở như sau:

Thứ nhất, tiếp tục làm rõ hơn nữa khái niệm, vai trò, định hướng, yêu cầu, mô hình và phương pháp TTCS trong giai đoạn hiện nay

Thực tế cho thấy cả hệ thống chính trị và mỗi người dân trong xã hội vẫn chưa thấy hết vai trò và tầm quan trọng của TTCS đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, từ đó dẫn đến việc chưa coi đây là một phần cấu thành bắt buộc của quy trình ban hành chính sách. Cần phân biệt rạch ròi giữa việc TTCS với tuyên truyền chính sách vì đây là hai nội dung khác nhau.

Trong đó, TTCS là để bảo đảm sự minh bạch bằng cách chia sẻ thông tin với công chúng, Chính phủ và các Bộ ngành, các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng được lòng tin và xác lập được chế độ trách nhiệm. Qua đó giúp công chúng thấu hiểu tính hợp lý của các phản ứng chính sách và giúp đấu tranh chống lại những luồng nhiễu, những thông tin giả mạo.

Còn tuyên truyền được hiểu là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, thông qua đó biến những kiến thức, giá trị tinh thần thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Thế nhưng hiện nay, đa số dư luận vì không có nhận thức đầy đủ nên đang có sự nhầm lẫn giữa tuyên truyền và truyền thông chính sách, coi việc TTCS là việc “đương nhiên”, “mặc định” phải làm của cơ quan báo chí truyền thông, để cơ quan báo chí truyền thông làm theo kiểu “tay không bắt giặc”.

Ngân sách cho TTCS phải được cấu thành ngay từ trong quá trình và quy trình ban hành chính sách.

Ngân sách cho TTCS phải được cấu thành ngay từ trong quá trình và quy trình ban hành chính sách. Muốn vậy, phải có chiến lược truyền thông đồng bộ: chiến lược truyền thông của Chính phủ, của Bộ, ngành. Xây dựng, ban hành một chính sách nào thì cần phải có một chiến lược truyền thông cho chính sách đó. Không thể coi việc xây dựng chiến lược và thực thi chiến lược là việc của “cả nước”, của mọi người mà không có bộ phận hay nhân sự chuyên trách. Với mỗi cơ quan, tổ chức cần có một bộ phận chuyên nghiệp để làm công tác TTCS vì đây là công tác khó, đặc thù cần có kiến thức và chuyên môn riêng.

Trong vấn đề này, chính hệ thống quản lý nhà nước phải tham khảo và áp dụng những kinh nghiệm đi trước từ hệ thống doanh nghiệp, của các tổ chức kinh tế trong hoạt động truyền thông. Đó là bài học từ việc xác định yêu cầu truyền thông, mô hình truyền thông, kênh truyền thông và ngân sách cho truyền thông gắn với chi phí tối thiểu của tổng thể dự án, chương trình mục tiêu.

tuyen-truyen-csc.png

Thứ hai, xây dựng chiến lược TTCS một cách toàn diện, từ cấp độ quốc gia, khu vực, lĩnh vực và tới những trọng tâm cụ thể

Trong hoạch định và xây dựng chính sách phải làm từ sớm, từ xa, tạo sự đồng thuận xã hội, đảm bảo các dự luật, chính sách ban hành thực sự là của người dân đó cũng chính là con đường ngắn nhất và vững bền nhất để kiến tạo, sử dụng và phát huy nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn lực tài chính cho TTCS.

Trên thực tế, có những đạo luật mới thông qua chưa có hiệu lực đã phải sửa; có những dự án luật chưa ra tới nghị trường cũng đã gặp phải sự phản đối từ phía dư luận xã hội. Nguyên nhân nằm ở công nghệ và kỹ thuật lập pháp, nhưng cũng có những vấn đề nằm ở chất lượng của TTCS. Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị chưa có một chiến lược TTCS ở cấp độ vĩ mô và những mô hình, phương pháp hữu hiệu và TTCS cũng chưa có những điểm đột phá hiệu quả.

Thứ ba, điều chỉnh cơ cấu dự chi NSNN và sửa đổi Luật Ngân sách

Một trong những giải pháp hiệu quả cần sớm thực hiện đó là việc sửa đổi quy định về ngân sách tài chính chi cho hoạt động TTCS. Bộ Tài chính cần căn cứ dự toán sát hơn nữa với thực tế trong việc yêu cầu dự toán chi thường xuyên NSNN. Bên cạnh đó, các bộ, cơ quan Trung ương, địa phương cũng cần chủ động ưu tiên bố trí kinh phí hàng năm cho hoạt động TTCS.

Trong vấn đề điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có những quyết định về việc điều chỉnh ngân sách cho hoạt động báo chí. Theo ý kiến của Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng: “Báo chí muốn tồn tại được thì phải chuyển đổi số (CĐS), phải trở thành một tổ chức công nghệ. Công nghệ phải chiếm tới 30% hoạt động của một cơ quan báo chí, không có công nghệ là không thể làm báo” [8].

Hiện nay, MXH cùng các nền tảng số đang dần lấn sân báo chí và chiếm ưu thế chính là dựa vào thành tựu của công nghệ, nhất là sản phẩm của Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong khi đó, mỗi năm đầu tư cho báo chí lại chưa đến 0,2% tổng chi đầu tư của ngân sách, đây được đánh giá là mức rất thấp. Với đề xuất của Bộ TT&TT trong việc tăng thêm cho truyền thông 0,2% ngân sách trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết để báo chí cách mạng nâng cao năng lực cạnh tranh, cả về hạ tầng công nghệ và nhân lực.

Thứ tư, tập trung ngân sách cho các cơ quan báo chí chủ lực, gắn với yêu cầu mới về chất lượng nội dung và hiệu quả tác động xã hội

Các cơ quan báo chí chủ lực đóng vai trò là “xương sống” trong hoạt động TTCS. Để triển khai hoạt động thông tin tuyên truyền phù hợp với những bước tiến của thời đại và đòi hỏi mới của công chúng thì mức ngân sách của hệ thống này là rất lớn. Ví dụ, như đối với Đài Truyền hình Việt Nam hệ thống các kênh tin tức, phổ biến giáo dục, phục vụ hoạt động TTCS tập trung chủ yếu trên 7 kênh truyền hình quảng bá của Đài. Chi phí để đảm bảo cho hệ thống TTCS của đài đặc biệt lớn với mức kinh phí gần 1.200 tỷ đồng/ năm (chưa bao gồm chi phí khấu hao) [9].

Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ với Bộ TT&TT cùng các cơ quan truyền thông chính thống như Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân v.v.. để có các giải pháp tăng nguồn NSNN đối với các cơ quan TTCS của Chính phủ. Mặt khác, cùng với việc đổi mới cơ chế ngân sách, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của TTCS cũng phải đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nội dung tương xứng với chi phí đầu tư. Theo đó, cần dựa trên bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và tác động xã hội rõ ràng, lấy hiệu quả tác động làm căn cứ chính để đánh giá thành công.

Thứ năm, thay đổi nhận thức về cơ chế “đặt hàng” báo chí

Để tận dụng tối đa sức mạnh của báo chí, đưa báo chí thành kênh thông tin chủ lực, nòng cốt thực hiện truyền thông chính sách, pháp luật đến với xã hội và người dân thì Chính phủ, Bộ, ngành, các cơ quan chức năng liên quan cần nghiên cứu cơ chế cụ thể để cơ quan báo chí phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách pháp luật tham gia thực hiện TTCS. Trong đó, có việc đặt hàng, giao nhiệm vụ thường xuyên, thiết lập kênh kết nối xuyên suốt và phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan để đảm bảo hoạt động này được triển khai ổn định, bền vững và có hiệu quả.

Hiện nay, nhiều cơ quan báo chí khi thực hiện TTCS nhưng phải đi “xin” thông tin ở cơ quan chức năng. Các cơ quan nhà nước cần nhận thức rằng mình chính là “khách hàng” của cơ quan báo chí truyền thông, trong đó các loại hình báo chí là kênh thông tin cơ bản để TTCS. Tuy nhiên, để làm tốt việc truyền thông này, cần tháo gỡ vướng mắc do cơ chế, chính sách từ các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời cũng cần sự phối hợp đồng bộ giữa báo chí với các cơ quan này.

Để cơ chế đặt hàng báo chí được thuận lợi, cần sớm xây dựng rõ bộ tiêu chí và trả lời rõ được câu hỏi: “Thế nào là nội dung thiết yếu?”. Cần có những tiêu chí để xác định các nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu, với quan điểm, nguyên tắc là những hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu thì nhà nước sẽ đảm bảo về kinh phí, có thể thông qua cơ chế đặt hàng, mua dịch vụ, v.v. để hỗ trợ cho các cơ quan báo chí.

TTCS là để bảo đảm sự minh bạch bằng cách chia sẻ thông tin với công chúng, Chính phủ và các Bộ ngành, các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng được lòng tin và xác lập được chế độ trách nhiệm. Qua đó giúp công chúng thấu hiểu tính hợp lý của các phản ứng chính sách và giúp đấu tranh chống lại những luồng nhiễu, những thông tin giả mạo.

Thứ sáu, huy động vai trò của các kênh truyền thông ngoài báo chí và lực lượng xã hội khác nhau để TTCS

Hoạch định và ban hành chính sách là một phần cấu thành quan trọng nhất của quản trị quốc gia. Chính phủ, các Bộ ngành cần phải có chiến lược truyền thông của mình, mà truyền thông thì không chỉ có báo chí và dừng lại ở báo chí. Vấn đề là phải có một chiến lược truyền thông và đội ngũ làm truyền thông chuyên nghiệp để triển khai hiệu quả chiến lược đó. Báo chí chỉ là một bộ phận của đội ngũ làm công tác truyền thông mà thôi.

Để tăng cường tính hiệu quả của TTCS, cần tính đến việc khai thác vai trò của các kênh truyền thông khác, trong đó có các nguồn lực xã hội. Việc huy động nguồn lực xã hội tham gia công tác truyền thông dự thảo chính sách là một trong những giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm cúa Đề án 407 được Thủ tướng Chính phủ ban hành [10]. Đề án 407 xác định việc huy động nguồn lực xã hội tham gia công tác truyền thông dự thảo chính sách là một trong những giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của mặt trận; phát huy vai trò, trách nhiệm xã hội của các cá nhân, tổ chức hành nghề về pháp luật, đội ngũ nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, chuyên gia, cũng như khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, hỗ trợ nguồn lực để tổ chức các hoạt động truyền thông về dự thảo chính sách theo quy định.

Tuyên truyền được hiểu là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, thông qua đó biến những kiến thức, giá trị tinh thần thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra.

Cần nhìn vào thực tế và trả lời thẳng thắn câu hỏi: “Có thể xã hội hóa nguồn lực TTCS, có sự chấp nhận và quản lý yếu tố lợi ích trong TTCS hay không”? Đây là một cách chủ động để huy động nguồn lực tài chính hợp pháp để thực hiện TTCS. Về bản chất, chính sách là một sự phân biệt đối xử, chính sách là phải có lợi ích và ít có một chính sách nào trung tính hoàn toàn. Rõ ràng, có người được nhiều hơn, có người được ít hơn nhưng mục tiêu của chính sách phải rõ, minh bạch. Vì thế mới cần TTCS. Trong TTCS, có ý kiến cho rằng: “Ai được hưởng lợi ích nhiều nhất từ chính sách cần chia sẻ trách nhiệm cho chi phí TTCS!?”.

Thực tế này cũng đặt ra một nguyên tắc, đó là sự minh bạch, không cài cắm lợi ích của phe nhóm trong quá trình hoạch định chính sách và truyền thông. Phản ứng chính sách của chính quyền thông thường hướng tới lợi ích của ai đó, hoặc là lợi ích của số đông, hoặc là lợi ích của nhóm yếu thế. Đòi hỏi không được cài cắm lợi ích nhóm chung chung là không thực tế. Vấn đề là hướng tới lợi ích của ai thì phải công khai, minh bạch. Phải giải trình được tại sao một chính sách như vậy lại cần thiết. Chính sách đó nhằm đạt tới mục tiêu gì? Tại sao đứng từ góc độ lợi ích quốc gia, nó lại cần thiết. Tất cả những điều đó đều cần phải được truyền thông. Ai sẽ được nhiều hơn, ai sẽ ảnh hưởng cũng cần phải được truyền thông một cách minh bạch.

Chính sách được nghiên cứu, ban hành không chỉ là sản phẩm của cơ quan nhà nước mà còn là trí tuệ, sáng kiến của nhân dân, trong quá trình xây dựng chính sách và TTCS cần tránh tình trạng cài cắm “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ”, v.v..

TTCS hiệu quả sẽ cung cấp cho công chúng thông tin về mục đích, lợi ích và những tác động của chính sách. Khi đó công chúng có thể tham gia vào các cuộc tranh luận xã hội, phản hồi và đưa ra các lựa chọn phù hợp đối với nội dung chính sách. Như vậy, lợi ích lớn nhất sẽ thuộc về công chúng, về người dân, nếu vậy người dân có vai trò như thế nào để trả phí cho những lợi ích mà mình thụ hưởng? Nếu làm được tốt việc này, vấn đề kinh phí cho TTCS sẽ không còn là một “nút thắt”.

[1]. Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác truyền thông chính sách chiều 24/11/22.
[2]. Báo cáo của Bộ TT&TT trong buổi làm việc với Ủy ban Văn hóa, Giáo dục làm việc với về kinh tế báo chí và việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về báo chí, Hà Nội
2/3/2023.

[3]. Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác truyền thông chính sách chiều 24/11/22.
[4]. Bộ TT&TT, công văn số 3355/BTTTT-CBC, ngày 15/8/2023.

[5]. Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên (Nghị định số 32/2019/NĐ-CP)

[6]. Điểm b khoản 1; Điểm c khoản 2 Điều 12 Nghị định số 32/2019/NĐ-CP.
[7]. Khoản 2 điều 5 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP cũng quy định.

[8]. Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác
truyền thông chính sách với chủ đề “Truyền thông chính sách:
Nhận thức - Hành động - Nguồn lực”, Hà Nội 24/11/2022.

[9]. Phát biểu của ông Lê Ngọc Quang – Tổng Giám đốc Đài
Truyền hình Việt Nam tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về
công tác truyền thông chính sách với chủ đề «Truyền thông
chính sách: Nhận thức - Hành động - Nguồn lực”, 24/11/2022.

Tài liệu tham khảo:
1. Hà Thị Thu Hương. 2022. “Thông điệp truyền thông
chính sách qua một số nghiên cứu trên thế giới”. (https://
nguoilambao.vn/thong-diep-truyen-thong-chinh-sach-qua-
mot-so-nghien-cuu-tren-the-gioi-n54234.html). Truy cập
tháng 9/2023.
2. Thủ tướng Chính phủ. 2019. “Nghị định số 32/2019/NĐ-
CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ,
đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công
sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường
xuyên”. Trang Thông tin Chính phủ (https://vanban.chinhphu.
vn/?pageid=27160&docid=196794). Truy cập tháng 9/2023.
3. Thủ tướng Chính phủ. 2022. “Quyết định số 407/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền
thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn
2022 - 2027”. Trang Thông tin Chính phủ (https://chinhphu.
vn/?pageid=27160&docid=205553&classid=0). Truy cập
tháng 9/2023.
4. Thủ tướng Chính phủ. 2023. “Chỉ thị số 7/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ: Về việc tăng cường công tác truyền thông
chính sách. Trang Thông tin Chính phủ (https://vanban.
chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=207606). Truy cập tháng
9 năm 2023.
5. Trần Thị Thanh Thủy. 2021. “Vai trò và các yêu cầu đối với
truyền thông chính sách”. (https://www.quanlynhanuoc.
vn/2021/01/05/vai-tro-va-cac-yeu-cau-doi-voi-truyen-thong-
chinh-sach/). Truy cập tháng 9/2023).

(Bài viết đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 11 tháng 11/2023)

Bài liên quan
  • Nhân lực truyền thông chính sách: cần những tiêu chí gì?
    Khi báo chí đăng tải bài viết về một “khu rừng hơn 600 ha sắp chuyển thành hồ thủy lợi”[1], dư luận xã hội mới bắt đầu chú ý đến một dự án đã được triển khai nhiều năm nay và được Quốc hội thông qua từ năm 2019, đó là việc xây hồ thuỷ lợi Ka Pét tại tỉnh Bình Thuận.
Nổi bật Tạp chí Thông tin & Truyền thông
Đừng bỏ lỡ
Tiền đâu để truyền thông chính sách?!
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO