Nhận thức về CĐS ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực

Theo ông Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, sau 3 năm sử dụng khái niệm chuyển đổi số (CĐS), nhận thức về quá trình này ở Việt Nam đã có chuyển biến tích cực nhưng hành động vẫn còn mang tính chất phong trào.

Thế Phương
17:19 PM 11/01/2022
In bài viết này
Nhận thức về CĐS ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực
Ông Võ Trí Thành: Nhận thức về quá trình CĐS ở Việt Nam đã có chuyển biến rất tích cực nhưng hành động vẫn còn mang tính chất phong trào.

Chia sẻ bài viết này

Thông tin trên được ông Thành đưa ra tại hội thảo "CĐS và xu hướng M&A trong lĩnh vực công nghệ năm 2022" tổ chức ngày 11/1.

60% DN cho rằng chi phí đầu tư ứng dụng công nghệ là rào cản lớn nhất khi CĐS

Khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư (nhadautu.vn) cho biết, CĐS đang là đòi hỏi bức bách đối với mọi quốc gia và doanh nghiệp (DN). Tại Việt Nam, tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030" với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số trên cơ sở phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Theo chương trình này, DN vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, đồng thời là mục tiêu, động lực của CĐS. Tuy nhiên, theo ông Tuấn, thực tế ở Việt Nam những năm gần đây cho thấy, mức độ CĐS của các DN còn khác nhau và không phải DN nào cũng thành công trong CĐS; nhưng ngày càng có nhiều DN chú trọng CĐS và không ít doanh nghiệp đã đạt được những thành công đáng khích lệ. "Những DN CĐS thành công đã kiểm soát có hiệu quả dịch COVID-19, duy trì sản xuất, kinh doanh, phát triển kênh phân phối, bán hàng; gia tăng trải nghiệm khách hàng; tiết kiệm chi phí vận hành… qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh", ông Tuấn cho biết thêm.

Chia sẻ tại hội thảo, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng, Cục Phát triển DN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, môi trường kinh tế số tại Việt Nam có những lợi thế nhất định như tỷ lệ thuê bao băng rộng (cả cố định và di động) đều tương đối tốt so với một số quốc gia trong khu vực như Thai Lan, Indonesia, Malaysia. Đồng thời, tỷ lệ các DN trực tuyến sử dụng thanh toán số cũng ngang bằng với một số nước. Tuy nhiên, Việt Nam còn gặp những hạn chế như tỷ lệ giao dịch kỹ thuật số còn thấp (22%), so với 24% của Indonesia, 62% của Thái Lan hay tỷ lệ thanh toán online khi mua sắm trên di động cũng còn hạn chế, chỉ khoảng 10%, thấp hơn Indonesia (29%) và Malaysia (52%).

Nhận thức về CĐS ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực - Ảnh 1.

Bà Bùi Thu Thủy: Chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ cao là rào cản lớn nhất của DN khi tiến hành CĐS khi chiếm đến 60%.

Cũng theo bà Thuỷ, mặc dù đem lại nhiều lợi ích như giúp phát triển mô hình kinh doanh, sáng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu thị trường hay giúp nâng cao hiệu quả quản trị, sử dụng tài nguyên, khả năng ra quyết định nhưng doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn khi tiến hành.

"Khảo sát của Cục Phát triển DN năm 2021 về những rào cản, khó khăn của DN khi CĐS cho thấy: 60% đến từ chi phí đầu tư, ứng dụng công nghệ cao; 52,3% đến từ việc thay đổi thói quen, tập quán và thiếu nhân lực nội bộ để ứng dụng công nghệ số; 45% đến từ thiếu cơ sở hạ tầng công nghệ số", bà Thủy nói.

Thời gian qua, các DN đã đẩy mạnh CĐS nhằm nắm bắt tối đa các cơ hội trong bối cảnh mới. Quá trình này được thúc đẩy bởi sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của khách hàng, sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu và tác động của đại dịch khiến giao dịch số/online tăng mạnh, sự sẵn sàng của các nền tảng công nghệ và các nhà cung cấp trên thị trường: 64.000 DN công nghệ số với doanh thu 135 tỷ USD năm 2021, tăng trưởng 10%. Không chỉ vậy, Chính phủ cũng đang tăng cường các giải pháp và hỗ trợ đối với các DN trong việc ứng dụng CNTT.

Dù vậy, theo bà Thủy CĐS vẫn là một quá trình không hề dễ dàng với các DN khi gặp những thách thức như: khả năng tiếp cận các thông tin, tài liệu, chuyên gia hỗ trợ; khả năng kết nối với các giải pháp trên thị trường; khả năng tiếp cận các nguồn vốn để thực hiện CĐS; môi trường kinh tế số tại Việt nam còn khiêm tốn; các chỉ tiêu khác như thanh toán điện tử, tỷ lệ giao dịch số tại Việt nam còn thấp.

Đặc biệt, Việt Nam đang trong quá trình CĐS quốc gia, nhiều quy định liên quan đến CĐS đang được xây dựng, hình thành (tiêu chuẩn công nghệ, giao dịch thương mại điện tử, chứng thực số, thuế, hải quan, v.v.) hay sự gia tăng các rủi ro liên quan đến an toàn thông tin, an ninh mạng.

Ngày 7/1/2021, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ DN CĐS giai đoạn 2021-2025. Chương trình có mục tiêu hỗ trợ thúc đẩy CĐS trong DN thông qua tích hợp, áp dụng công nghệ số để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực và lợi thế cạnh tranh, tạo ra các giá trị mới cho DN. Tính đến nay, chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định như 1.000.000 DN được tiếp cận các hoạt động từ chương trình, 500 DN được đánh giá mức độ sẵn sàng CĐS… Trong năm 2022, chương trình sẽ triển khai 3 gói hỗ trợ DN CĐS gồm gói bắt đầu CĐS , gói tăng tốc CĐS và gói CĐS hướng đến thị trường toàn cầu.

COVID-19 là chất xúc tác thúc đẩy CĐS mạnh mẽ

Cũng tại hội thảo, ông Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV đã điểm lại 8 xu hướng thay đổi kinh tế trong và sau dịch COVID-19, trong đó yếu tố quan trọng nhất chính là xúc tác CĐS. Dịch COVID-19 đã khiến các chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhìn nhận lại về cách thức làm việc, đầu tư, kinh doanh và tiêu dùng (họp trực tuyến, làm việc tại nhà, khám chữa bệnh từ xa, đào tạo trực tuyến, livestream...); là động lực thúc đẩy CĐS mạnh mẽ. Quốc gia, DN, tổ chức nào nắm bắt, chủ động trong xu thế này sẽ có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ.

Cũng theo ông Lực, tại Việt Nam, khung pháp lý về CĐS trong đầu tư, kinh doanh đang được hoàn thiện. Bên cạnh đó, các DN cũng đang đẩy nhanh tốc độ CĐS (cả kênh bán hàng và quy trình nội bộ); hình thành hệ sinh thái tài chính với các ngân hàng/DN lớn hay Big tech giữ vai trò điều phối; dữ liệu khách hàng được sử dụng để tạo ra những sản phẩm "cá thể hóa"; các Big tech, Fintech, DN bán lẻ trên nền tảng số... sẽ có ảnh hưởng lớn hơn tới thị trường: cạnh tranh hoặc hợp tác với các DN truyền thống; các mô hình kinh doanh mới xuất hiện nhiều hơn.

Nhận thức về CĐS ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực - Ảnh 2.

Ông Cấn Văn Lực đã đặt ra một số vấn đề cần giải quyết ở Việt Nam như tiêu chí, đo lường kinh tế số hay bài toán về dữ liệu lớn và xuyên biên giới...

Trên cơ sở đó, ông Lực đã đặt ra một số vấn đề cần giải quyết ở Việt Nam gồm: tiêu chí, đo lường kinh tế số; bài toán về dữ liệu lớn và xuyên biên giới; bài toán về hạ tầng số; bài toán về đầu tư trí tuệ nhân tạo (AI), IoT, R&D...; bài toán nguồn nhân lực; quản lý rủi ro CNTT và CĐS, an ninh mạng, dữ liệu, sở hữu trí tuệ, văn hóa số...

Đồng thời ông Lực cho rằng, cần có cách tiếp cận, lộ trình và giải pháp về tiền kỹ thuật số; có tầm nhìn, chiến lược và thực thi trong thời gian tới. "Kinh tế số cần được định nghĩa rộng hơn là lĩnh vực CNTT-TT và các ngành nghề, mô hình kinh doanh gắn với công nghệ số bao gồm dịch vụ số, các nền tảng trực tuyến, một số bộ phận của kinh tế chia sẻ, kinh tế gắn kết linh hoạt…", ông Lực nói.

Cuối cùng, ông Lực đã đưa ra một số khuyến nghị bao gồm: Chính phủ cần sớm sửa đổi Luật giao dịch điện tử; xây dựng khung pháp lý (gồm cả sandbox) cho các hoạt động kinh doanh số, tài sản số (Fintech, cho vay ngang hàng, huy động vốn cộng đồng, Proptech, Insurtech, Edutech, Healthtech; tài sản số; e-KYC ...); quy định về quản lý dữ liệu và chia sẻ thông tin, dữ liệu; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu ở cả cấp quốc gia (dữ liệu dân cư và DN); quy định về dịch vụ đám mây (cloud services); dùng blockchain, AI trong các lĩnh vực chủ chốt...; quy định, chính sách bảo vệ người tiêu dùng tài chính (gồm cả tài chính số).

Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư hạ tầng số, nguồn nhân lực số; đầu tư AI, R&D; an ninh mạng, phòng chống tội phạm công nghệ cao và tài chính số; đẩy nhanh tiến trình nghiên cứu về tiền kỹ thuật số của ngân hàng Trung ương. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ tài chính số.

Chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Trọng Đường, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý DN, Bộ TT&TT cho biết, thời gian qua, Bộ TT&TT đã rất quan tâm về vấn đề này, đồng thời nỗ lực hỗ trợ quá trình CĐS cho các DN nhỏ và vừa. Cụ thể, Bộ TT&TT đã triển khai nhiều chương trình SMEdx hỗ trợ với mục tiêu mỗi năm tối thiểu thúc đẩy 30.000 DN tiếp cận các nền tảng số. Dù vậy, trong năm 2021, chỉ mới có 16.000 DN tiếp cận được, một con số quá nhỏ so với mức 800.000 DN trên cả nước.

"Sắp tới, chúng tôi mong muốn các bộ ngành, UBND các tỉnh, cùng hỗ trợ DN CĐS, chủ yếu tập trung vào DN vừa và nhỏ. Đây cũng là nhóm DN bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch COVID-19. Tuy nhiên, quá trình CĐS của họ vẫn gặp phải một số rào cản như: thiếu thông tin; mất nhiều thời gian để đào tạo, hướng dẫn; thiếu nguồn lực hỗ trợ kinh tế", ông Đường nói.

Việt Nam mới chỉ là nước trung bình về CĐS trong khối ASEAN

Theo ông Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, cách đây 3 năm (năm 2019), Việt Nam bắt đầu sử dụng thuật ngữ CĐS. Đến hiện nay, nhận thức về CĐS đã có chuyển biến rất tích cực nhưng hành động thực tế vẫn mang tính phong trào, dù bước đầu đã có những khởi sắc, dịch chuyển nhất định. "Do đó Việt Nam vẫn là nước trung bình về CĐS trong khối ASEAN", ông Thành nhận định.

Để CĐS tốt cần lưu ý những yếu tố sau: tư duy nhận thức là vai trò của người đứng đầu; cuộc cách mạng về thể chế; nguồn nhân lực; hạ tầng như dữ liệu, băng thông; tinh thần DN sáng tạo. Theo ông Thành, cái khó của thể chế hiện nay là "quản" những thứ cả thế giới và Việt Nam cũng chưa biết, vì đang đi cùng nhau.

Hiện nay, chỉ 30-40% DN CĐS thành công. Do vậy, để thành công, quá trình CĐS phải gắn với chiến lược kinh doanh thực, tiếp đến là phải nghĩ lớn nhưng làm từng bước nhỏ và phải có ý nghĩa lan tỏa, kết nối đối tác với khách hàng và sản phẩm. Cuối cùng là vai trò người đứng đầu, những DN tốt thường có những giám đốc công nghệ - CTO.

Nhận thức về CĐS ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực - Ảnh 3.

Toàn cảnh hội thảo "CĐS và xu hướng M&A trong lĩnh vực công nghệ năm 2022" tổ chức ngày 11/1.

Còn theo ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông, thể chế ở Việt Nam đang đi chậm hơn các nước phát triển từ 5-8 năm về các quy định liên quan đến tài sản số, dữ liệu, thuế, kinh doanh số hay sandbox. Như đối với quy định thử nghiệm liên quan sandbox, ở nước Anh, họ đã nói đến vấn đề này cách đây 10 năm, còn ở Việt Nam mới chỉ nhắc đến 5 năm gần đây, và Mobile Money là sandbox duy nhất. Hay luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng là một vấn đề đang chậm hơn thế giới, ở châu Âu đã thảo luận cách đây 8 năm và ban hành quy định vào năm 2018, có hiệu lực năm 2020. "Tương tự là các quy định về tài sản số, năm 2021 vừa qua, thế giới chọn NFT là từ khóa của năm nhưng chúng ta vẫn chưa thừa nhận về tài sản số", ông Đồng chia sẻ.

Tuy nhiên, ông Đồng cho rằng, trong thời gian tới sẽ có những sự thay đổi mạnh mẽ, Bộ TT&TT đã trình Chính phủ sửa đổi luật liên quan đến giao dịch điện tử (chữ ký số, giao dịch số, dữ liệu sô…), Luật công nghiệp, công nghệ số (với một số nội dung về sandbox), viễn thông, tần số. Hay đối với tài sản số, ông Đồng cho biết cũng đã kiến nghị cần đưa ra định nghĩa, khung pháp lý thử nghiệm cơ bản để có thể chấp nhận nó. Từ đó, mới có thể bảo vệ được tài sản số. Bởi vì, nếu không được thừa nhận, DN, nhà đầu tư sẽ không thể bảo vệ được tài sản số.

"Hiện nay công nghệ blockchain đang phát triển mạnh mẽ, nhưng khi tạo ra NFT lại không được thừa nhận nó như một tài sản. Đây là thời điểm chúng ta cần làm nhanh, khi mà ngay cả trong ASEAN, Việt Nam vẫn còn đang đi chậm hơn các nước trong khu vực", ông Đồng nhấn mạnh.

Về vấn đề thể chế, ông Đường cho biết, đối với việc sửa Luật giao dịch điện tử, Bộ TT&TT đã gửi trình Quốc hội để đưa vào xem xét, thảo luận tại kỳ họp tháng 10/2022, nhằm đưa tất cả các giao dịch truyền thống lên điện tử. Trong khi đó, Luật công nghiệp, công nghệ số dự kiến trình Quốc hội năm 2023.

Ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ TT&TT cho biết, Luật Công nghiệp, công nghệ số hiện đã báo cáo Chính phủ và sẽ chuyển sang trình Quốc hội vào năm 2023. Luật sẽ định nghĩa lại thế nào là công nghiệp công nghệ số và các hoạt động liên quan công nghệ số cũng như việc quản lý, các điều kiện thúc đẩy phát triển.

Liên quan trực tiếp đến M&A, Luật sẽ định nghĩa tài sản số, tài sản ảo. Những giao dịch hiện giờ như tiền số có giao dịch lớn, nếu không công nhận tài sản thì không thể đánh thuế, giải quyết được. Ở các nước như Mỹ, họ đưa ra việc quản lý dưới góc độ quản lý tài sản. Dù Luật dân sự có quy định về tài sản, nhưng ở công nghệ số sẽ có những khía cạnh khác.

"Việt Nam có 99,2% DN là nhỏ và siêu nhỏ. Vậy làm thế nào để các DN này tiếp cận được với nguồn vốn khổng lồ từ nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Chúng ta coi dữ liệu là tài nguyên, nhưng lại nằm trong tay ai? Vậy cần quy định để người Việt Nam kinh doanh và kiếm lời trên tài sản số, thay vì những tài sản này nằm trong tay các ông lớn quốc tế. Đó là một vấn đề chúng tôi đưa vào dự thảo luật. Từ góc độ về an ninh quốc gia, chúng tôi có đưa ra các quy định dữ liệu về năng lượng, đất đai, bí mật kinh doanh...", ông Tuyên chia sẻ thêm./.