Chuyển đổi số ngân hàng: Digital bank và Digital banking

Thời đại của nhiều công nghệ đột phá mới nổi đã và đang làm thay đổi cách sống của con người trên thế giới. Vì vậy, mọi tổ chức và định chế của mỗi quốc gia cũng buộc phải chuyển đổi theo để nhằm đáp ứng với những thay đổi đó.
08:58 AM 28/12/2020 In bài viết này

Cho tới nay thì nhân loại chưa có bộ công cụ nào tốt hơn là chuyển đổi số để làm việc này. Như một định chế đặc thù thì các ngân hàng (NH) cũng cần phải tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi đó để trở thành NH số (digital bank) kiểu mới và vận hành những dịch vụ số của mình mà người ta thường dùng trong tiếng Anh là digital banking. Digital bank và digital banking ở các NH kiểu mới là phần tất yếu của chuyển đổi số ngành tài chính - ngân hàng, fintech và những bên liên quan tới ngành.

 Ngân hàng số là gì?

Hiện nay người ta thường hay đồng nhất khái niệm Ngân hàng số (digital bank) với digital banking - điều đó không hẳn là sai hoàn toàn, nhưng chưa đầy đủ. Digital bank là đối tượng thuộc về thực thể định chế (institution), còn digital banking là việc vận hành hoạt động của digital bank mà trong thời đại số thì nó hướng về các dịch vụ, hoạt động dịch vụ số. Tức là digital banking chính là việc vận hành các dịch vụ của NH số.

Như loại hình doanh nghiệp đặc biệt, NH số (digital bank)- đó chính là việc (tái) xây dựng NH như một hệ thống số. Tức là mọi sản phẩm và dịch vụ cốt yếu của NH, các quy trình kinh doanh, các mô hình kinh doanh của nó,... đều phải trở thành "số". Digital banking là việc vận hành sản phẩm và dịch vụ số của NH số hướng tới khách hàng - nôm na mới chỉ là phần front-office. Trong khi digital bank còn cả phần chuyển đổi số của back-office, bao gồm không chỉ vấn đề nhân sự hay quy trình nội bộ, mà còn những nền tảng công nghệ số "lõi" (core banking) và ứng dụng cũng như việc "thiết kế - sản xuất" ra sản phẩm và dịch vụ của NH. 

Tổng quát hơn thì hệ thống số - đó là hệ thống mà các thành tố (element) và các mối quan hệ giữa chúng được xây dựng từ những biểu diễn số của các thành tố và các mối quan hệ đó. Và biểu diễn số (digital presentation, đôi khi cũng dùng digital representation) của một đối tượng - đó là mô tả (description) hình thức (formal), tường minh (explicit), đọc được bằng máy (machine-readable) và thực thi được bởi máy (machine-excutable) của đối tượng này - các thành tố và những mối quan hệ giữa chúng trong một hệ thống nào đó đều được coi là đối tượng để chuyển đổi số.

Việc biến NH truyền thống thành NH số chính là quá trình chuyển đổi số NH.

 Khác biệt giữa NH truyền thống và NH số

Từ góc độ vận hành các sản phẩm và dịch vụ của NH, có thể liệt kê vô số điểm khác biệt giữa chúng, nhưng tựu trung chính yếu đó là: Tất nhiên, cần phải hiểu rằng các NH được lập ra với kỳ vọng đáp ứng mọi nhu cầu tài chính của mọi người và tổ chức. Ban đầu, họ tiến hành những giao dịch tài chính với các phương tiện tiền tệ, chẳng hạn như: gửi tiền, rút tiền và chuyển khoản; quản lý tài khoản thanh toán/tiết kiệm; đăng ký các sản phẩm tài chính; quản lý cho vay tín dụng; thanh toán hóa đơn và nhiều dịch vu khác. Chính vì thế mà NH đã tổ chức các hoạt động của mình xung quanh các sản phẩm: chuyển tiền, bảo lãnh thế chấp, thẻ NH, cho vay tín dụng, thanh toán, ký quỹ,... Mọi việc này được cung cấp thông qua một kênh - điểm giao dịch của NH.

Về sau đã xuất hiện một kênh khác - đó là trung tâm cuộc gọi (call-center). Chúng được đưa vào cách đây không lâu, tuy nhiên không phải mọi NH đều có. Và tại nhiều call-centers, hầu hết đều hoạt động là theo nguyên tắc outsourcing (thuê ngoài), tức là thường thì call-center thực hiện chức năng chuyển cuộc gọi đến chuyên viên tương ứng trong NH. Đồng thời, các trung tâm cuộc gọi lấy toàn bộ dữ liệu từ những điểm giao dịch NH hoặc hội sở, vậy là kênh phục vụ mới được thiết lập trên mạng lưới các điểm giao dịch hoặc hội sở.

Chuyển đổi số ngân hàng: Digital bank và Digital banking - Ảnh 1.

Kế đó, còn xuất hiện kênh tương tác khác - đó là Internet. Các NH bắt đầu đưa Internet banking tới khách hàng. Họ trù tính rằng điều này sẽ dẫn tới việc giảm lưu lượng khách hàng đến các điểm giao dịch và giảm khối lượng công việc tại đó. Tuy nhiên, cũng như trước, mọi dữ liệu được cấu trúc theo các sản phẩmcủa NH, cho nên Internet không phải lúc nàocũng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, mà khách hàng thì không vội từ chối hoặc thậm chí vẫn buộc phải đến điểm giao dịch (ví dụ, một phần là để tiến hành giao dịch tiền mặt hay ngoại tệ). Kết quả là, các NH đã nhận được thêm một lớp cho cơ sở hạ tầng dưới dạng Internet banking cùng với cal-center và điểm giao dịch. Như vậy, các NH đã trở thành con tin của hệ thống quy trình tích hợp theo chiều dọc của mình, được xây dựng xung quanh các sản phẩm NH và quy trình kinh doanh tương đối độc lập.

Trong thập niên gần đây, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển của các công nghệ di động, điện toán đám mây (cloud computing) và dữ liệu lớn (big data), sự phát triển của mạng xã hội vốn luôn cho phép khả năng trực tuyến.

Quan hệ giữa NH và khách hàng đang thay đổi

Lượng người dùng công nghệ số đang tăng lên hàng ngày, xuất hiện các khái niệm "dân nhập cư số" và "cư dân số bản địa". "Dân nhập cư số" - đó là những ai lớn tuổi biết sử dụng thành thạo các công nghệ Internet mới nhất, trong khi "cư dân số bản địa" - đó là thế hệ trẻ hơn, 9x trở lại đây, sinh ra và lớn lên song hành với Internet và đối với họ thì Internet - là một phần không thể thiếu của cuộc sống. Họ không nghĩ nhiều về nó, mà chỉ đơn giản là sống cuộc đời của mình ở đó, trong đó tính di động, tính tương tác và các kênh truyền thông số khác nhau được tích hợp vào một cách hết sức tự nhiên.

Chẳng hạn, "cư dân số bản địa" này không muốn nghĩ về các điểm giao dịch NH, về việc ghé đến đó, về nhu cầu giao tiếp với nhân viên NH, không muốn mang theo bên mình tiền mặt bất kể dạng nào, không muốn điền và ký cả mớ tài liệu giấy tờ theo form mẫu. Họ không muốn gọi đến các call-centers, không muốn chờ nghe trả lời của nhân viên trực tổng đài và một loạt chuyển cuộc gọi sang chuyên viên cần thiết để giải quyết vấn đề của họ. Họ muốn tự giải quyết mọi vấn đề của mình với NH mà không cần rời mắt khỏi điện thoại di động của họ và không ra khỏi mạng. Bởi vì, trạng thái như vậy - ở trên mạng, trực tuyến mọi lúc mọi nơi - đối với họ đơn giản đó mới chính là cuộc sống. Đây là điều mà các NH có thể không hiểu được, bởi vì NH thường được điều hành bởi "dân nhập cư số" - những ai theo nghĩa đen là khó hiểu được lối sống số hiện đại.

Các NH đã và đang làm việc chung quanh lưu thông tiền mặt, nhưng giờ đây mô hình này ngày càng được điều chỉnh về hướng hoạt động với tiền điện tử. Xã hội hiện đại ngày càng dành nhiều thời gian hơn trong không gian số, và điều này chỉ ra việc các NH cần phải xem xét lại hoàn toàn những mối quan hệ của mình với khách hàng và các cách thức cung cấp dịch vụ cho họ. Tất cả bản chất là ở chỗ không còn nhu cầu nào trong việc duy trì chính tính chất đa kênh cung cấp dịch vụ: các điểm giao dịch, các call-centers, dịch vụ Internet, dịch vụ di động,... 

Nếu có thì NH ngày nay chỉ có một kênh dịch vụ duy nhất - đó là điện tử, và nó là thống nhất đối với mọi điểm tương tác của NH với khách hàng. Các NH cần nên tạo ra và phát triển kênh dịch vụ điện tử thống nhất mà khách hàng có thể liên hệ thông qua bất kỳ phương tiện giao tiếp nào có sẵn hoặc mong muốn, cho dù là thiết bị di động hoặc ứng dụng, trang web hoặc call-centers,... Chính kênh dịch vụ điện tử như vậy, dựa trên Internet và các công nghệ di động, mới nên là điểm giao dịch của NH. Đây chính là là toàn bộ bản chất của sự chuyển đổi bán hàng: các NH cần chấm dứt suy nghĩ về các kênh dịch vụ khách hàng và cần hiểu rằng tất cả chúng giờ đây đang hướng tới các công nghệ số. Các call-centers, các máy ATM, các chi nhánh, Internet banking, mobile banking - tất cả những thứ đó giờ đây là số, suy ra, NH cũng phải trở thành số và dựa trên nền tảng số.

Một số tiêu chí đánh giá mức độ trưởng thành số của NH

Quá trình chuyển đổi số của các NH giống hệt như việc biến sâu nhộng thành con bướm. Nhưng liệu có phải mọi NH đều cần phải tiến tới mô hình số 100% và liệu cần hiểu NH hiện đang ở giai đoạn chuyển đổi nào hay không?

Động lực của các NH đối với việc đưa vào những thay đổi số - trước hết là về tiền tệ. Những tay chơi mới trong ngành đã chiếm một phần ba mức tăng trưởng doanh thu từ dịch vụ tài chính: các NH số kiểu mới, các nhà khai thác thanh toán điện tử phi NH, các startups từ lĩnh vực fintech và bigtech chiếm tới 33%. Hầu hết các "kỳ lân" fintech được xuất hiện là hoàn toàn số từ đầu. Sự ra đời của digital bank hoàn toàn mới hiện còn hiếm, nhưng dù sao những tay chơi non trẻ và táo bạo đang đổ dầu vào lửa trên thị trường dịch vụ tài chính cạnh tranh. Bởi vậy các NH truyền thống buộc phải thay đổi theo.

Trưởng thành số của NH ảnh hưởng trực tiếp đến vốn hóa của nó, còn hiệu quả hoạt động thì giúp chi phí ít hơn, vì vậy bảng cân đối kế toán lành mạnh sẽ phải trở thành nguồn tăng trưởng doanh thu chính. Có ba mức trưởng thành số của các NH: theo thống kê thế giới năm 2019, 50% nói chung chưa bắt đầu chuyển đổi, 38% thể hiện mức độ tích cực (họ đang trên đường chuyển đổi từ sâu nhộng thành con bướm). Cuối cùng, 12% có trọng tâm số rõ ràng, tức là họ hiểu biết, biết làm và thực hành. Nhưng hiện nay nhìn chung thì chưa có một NH truyền thống nào trở thành NH số 100% cả, mặc dù nhiều trong số họ thì "cánh bướm" đã hiển hiện.

Trưởng thành số của các NH có sự khác biệt rõ rệt tùy thuộc vào điểm xuất phát, mức độ tham vọng, khu vực hoạt động và loại hình sản phẩm, dịch vụ. Tuy nhiên, có thể chỉ ra những tiêu chí để đánh giá nó, dựa trên trải nghiệm của những định chế tài chính - ngân hàng lớn nhất trên thế giới.

Ưu tiên của mô hình "mobile first": NH hiện đại có nhiều kênh tương tác với khách hàng, bao gồm các điểm giao dịch, máy ATM, call-center và những nhà quản lý cá nhân. Cái gì là trọng tâm? Ở NH số - đó thường hơn cả là kênh di động - kênh chính yếu, những thứ khác sẽ trợ giúp duy trì liên lạc trọn vẹn. Đồng thời, không có sự cạnh tranh nào: điện thoại thông minh là ở trung tâm của mô hình giao tiếp với khách hàng, còn các kênh khác là bổ trợ.

Tự động hóa các hoạt động thủ công tại back-office: Từ quản lý rủi ro đến dịch vụ khách hàng - mọi quy trình theo mặc định phải được xây dựng trên những hệ thống dữ liệu và phân tích cũng như sử dụng các khả năng hiện đại của trí tuệ nhân tạo (AI). Với cách thức như vậy, NH có thể phục vụ trọn vẹn đồng thời hàng ngàn khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Độ mở của ngân hàng: Các NH dẫn đầu đang suy nghĩ xem liệu họ có thể đưa nền tảng số của mình ra thị trường mở thông qua kiến trúc vi dịch vụ (microservices) và API (Application Programming Interface). Có chuyên gia quốc tế từng nói: "Thị trường dịch vụ tài chính đang chuyển đổi từ đĩa mì spaghetti sang mì lasagna, nơi màcác NH sẽ lựa chọn họmuốn làm việc ở tầng lớp nào, cũng như ai sở hữu và  vận hành loại nước sốt kết nối mọi thứ. Hợp tác đang thay thế cạnh tranh".

Mở rộng mô hình truyền thống: NH số xem xét các dòng doanh thu tiềm năng thậm chí vượt ra khỏi các dịch vụ thông thường: từ bảo hiểm đến các dịch vụ phi tài chính, cùng nhau hoạt động vì lợi ích tài chính của khách hàng. Tỷ trọng của các dịch vụ như vậy trong danh mục nghiệp vụ của các NH trong tương lai sẽ tăng lên, trong khi các dòng thu nhập truyền thống từ lãi và hoa hồng sẽ giảm đi nhiều.

NH số = NH lấy dữ liệu làm động lực phát triển: NH số biết cách làm việc với dữ liệu lớn và sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (Artifical Intelligence) và học máy (Machine Learning) để gia tăng lợi nhuận. Các nhà phân tích hay so sánh quyền truy cập tới dữ liệu của các NH với việc phát hiện ra mỏ dầu lửa. Nhưng các NH tốt nhất không chỉ biết nơi nào cần khoan, mà còn biết cách cải thiện và sử dụng tối ưu nhiên liệu từ những giếng dầu này.

Điện toán đám mây ở nền tảng của cơ sở hạ tầng: Các đám mây công cộng (public cloud) đảm bảo hiện thực hóa hiệu quả và khả năng mở rộng nhanh chóng các dịch vụ NH số. Do đó, các NH với mức độ trưởng thành số cao liên tục đặt ra câu hỏi về các đám mây công cộng: "Tại sao chúng ta lại không dùng nhỉ?"

Tính linh hoạt: Các NH số đang trở nên linh hoạt (Agile), tức là họ đang đưa vào văn hóa tạo ra các sản phẩm/dịch vụ và việc quản lý những thay đổi một cách linh hoạt. Đây là cách mà dịch vụ có sức sống tối ưu có thể nhanh chóng gia nhập thị trường và được tinh chỉnh dựa trên phản hồi của khách hàng. Tính linh hoạt đảm bảo cách tiếp cận tương tác xuyên suốt và hỗ trợ quá trình chuyển đổi của các NH.

Các đổi mới sáng tạo ở trung tâm của NH: Mười năm tới, các NH số tốt nhất sẽ có bảng cân đối kế toán mạnh, nguồn vốn ổn định và quản lý rủi ro xuất sắc. Nhưng đây không phải là nói về việc thay thế hẳn mô hình truyền thống, mà là về việc phát triển nó và gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua các đổi mới sáng tạo (innovations).

Hợp tác trong ngành fintech: Các NH số đang xây dựng hệ sinh thái đối tác của mình. Chỉ NH nào biết cách làm việc với hệ sinh thái, sàng lọc, làm rõ và tiền tệ hóa những ý tưởng tốt thì mới sẽ có thể ở top tiên phong trong ngành.

Nhân sự hướng về công nghệ: Mọi quy trình này chỉ có thể hoạt động nếu nhân sự NH có những chuyên viên tài năng hỗ trợ thay đổi. Càng ngày các NH hiện đại càng loại bỏ dần vị trí CIO và bộ phận CNTT chuyên trách, bởi vì toàn bộ cấu trúc của họ đang trở thành số hết thì mọi nhân sự đều cũng sẽ là các chuyên gia CNTT. Lãnh đạo của các NH toàn cầu ngày nay có rất nhiều điểm chung: đó là DNA của NH đang trở thành số hoàn toàn. Các NH truyền thống trong năm 2015 - 2018 đã đầu tư khoảng 1.000 tỷ USD vào CNTT, phần lớn số tiền này được chi cho những công nghệ có tiềm năng chuyển đổi - nền tảng đám mây và AI. Đây là những khoản tiền khổng lồ, và điều quan trọng là những ai đầu tư chúng thì cốt yếu đã hiểu được tiềm năng thương mại của việc chuyển đổi. Đánh giá trưởng thành số của một NH trở thành điểm ra quyết định đối với các thành viên HĐQT và các bên liên quan khác. Trên con đường từ sâu nhộng thành con bướm, các NH truyền thống cần phải thiết lập "bảng cân đối" quan trọng giữa "run the bank" (vận hành NH) và "change the bank" (thay đổi NH): quản lý những gì đã được tạo ra và các thay đổi. Ở mỗi nơi thì "bảng cân đối" này sẽ khác nhau. Nhưng chính sự trưởng thành số sẽ là thứ phân biệt những ai chiến thắng trong tương lai về fintech với những kẻ thua cuộc.

Vài khuyến cáo cho các ngân hàng Việt Nam

Vấn đề chính yếu và sự hiểu lầm cốt lõi của các NH Việt Nam hiện nay là ở chỗ họ chưa thể sử dụng hiệu quả dữ liệu khách hàng, định danh khách hàng đúng đắn, hiểu được nhu cầu của họ, "nhìn ra được" và "nhận biết được" trong khi xác định việc "ghé vào" ngân hàng từ bất kỳ điểm vào/kênh nào. Họ chưa thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của khách hàng theo hình thức mà "cư dân số bản địa" muốn nhận được chúng. Trong nhiều năm, các NH Việt Nam đã xây dựng những kênh dịch vụ bên trên các sản phẩm dịch vụ NH riêng rẽ, nhưng giờ đây họ cần phải sử dụng những dữ liệu này trong dịch vụ di động. Đã chín muồi nhu cầu xây dựng NH xung quanh dữ liệu khách hàng và sau đó tích hợp chúng thông qua các dịch vụ đám mây vào những ứng dụng di động.

NH số tại Việt Nam cần hoàn toàn tập trung vào phong cách sống của khách hàng, vào các cách thức giao tiếp của khách hàng với NH của mình. Cần phải biến việc phục vụ tài chính cho những nhu cầu của khách hàng trở thành một phần của cuộc sống thường nhật. Đó được gọi là Life-Time- Banking, tức là tương tác trong các tình huống cuộc sống khác nhau để nhận ra hoạt động của khách hàng (thông qua các dịch vụ do khách hàng tùy chỉnh) và hỗ trợ những nhu cầu tài chính hàng ngày của họ, khi chúng phát sinh và theo nhu cầu của khách hàng. Cần phải làm sao cho khách hàng không phải điền nhiều mẫu đơn để nhận được dịch vụ NH nào đó (điều chỉnh lề lối làm việc để vẫn đảm bảo quy định pháp lý KYC - Know Your Customer, chẳng hạn cử chuyên viên trực tiếp gặp khách hang hoặc hợp tác cùng những cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để sử dụng định danh điện tử của công dân với chữ ký số bảo mật cao). 

Nếu anh ta đã được định danh, và anh ta đã ở trong NH, có nghĩa là anh ta có thể nhận được dịch vụ mà anh ta mong muốn và cần thiết. Không quan trọng là sẽ nhanh chóng trong bao lâu nữa, nhưng các điểm giao dịch (chi nhánh/phòng giao dịch) NH sẽ biến mất. Điều này sẽ diễn ra không phải vì xuất hiện những công nghệ mới trong xã hội, mà là vì chính các công nghệ này có thể thỏa mãn nhu cầu của họ.

Mọingười mua sắm các thiết bị di động hoặc máytính không chỉ vì họ mong muốn có chúng. Các thiết bị di động và máy tính đảm bảo cho họ những liên lạc và quan hệ mới. Mọi người nắm bắt công nghệ không phải vì các tiện ích, mà là vì công nghệ kết nối họ với lượng lớn bạn bè và những người không quen biết. Các mạng xã hội, các phần mềm chat và các loại hình tương tác khác thông qua Internet đang giúp mọi người tổ chức cuộc sống, chia sẻ và quản lý các sự kiện. Người dùng hiện đại không quan trọng về cách thức hoạt động của công nghệ. Bởi vì, chúng ta không cần quan tâm đến cách thức hoạt động của điện, chúng ta đơn giản là thích thú thỏa mãn những gì nó có thể làm được.

Người dân cần NH như thế nào? Nếu được yêu cầu tạo ra một NH số ngay hôm nay thì sẽ phải làm sao? Để trả lời câu hỏi này, cần phải hiểu chính xác những gì và cách mà các NH Việt Nam hiện có đang đề xuất trên thị trường. Họ cung cấp dịch vụ lưu giữ an toàn tiền gửi, thực hiện các giao dịch, tiếp nhận tại các điểm giao dịch NH, sử dụng mạng lưới ki-ốt thông tin và bốt NH tự phục vụ (ATM cải tiến), phát hành các khoản vay tín dụng, bao gồm cả tiêu dùng và thấu chi, các dịch vụ chuyển đổi và hoán đổi,... Những dịch vụ này được cung cấp chủ yếu tại các điểm giao dịch, một phần thông qua Internet banking và các ứng dụng di động.

Như vậy là, nếu tạo ra một NH mới hoạt động hoàn toàn thông qua các ứng dụng di động và trang web, thì điều đầu tiên đó là cần tập trung - đó là mở NH không có điểm giao dịch, đồng thời ký kết thỏa thuận về quyền truy cập mạng lưới ATM hiệu quả sẵn có của các NH đối tác. Khách hàng cần phải đến NH trong trường hợp duy nhất - đó là để làm việc với tiền mặt: nộp tiền vào tài khoản hoặc rút tiền mặt để chi trả. Máy ATM (mạng lưới ki-ốt thông tin và bốt NH tự phục vụ) có thể thực hiện những giao dịch này mà không cần sự tham gia của nhân viên NH ở chế độ tự động.

Tính linh hoạt và tiện nghi - đó là lợi thế của NH số. NH kiểu mới nên là một NH của thế kỷ 21, hướng tới tính di động, tính xã hội và tính tương tác. NH số Việt Nam cần nên tạo cơ hội cho dịch vụ tài chính cá nhân thông qua ứng dụng di động hoạt động ở chế độ trực tuyến 24/7. NH số mới của Việt Nam phải nên đảm bảo an toàn tối đa cho các công việc với NH nhờ việc định danh có sử dụng mọi loại định danh an toàn mới đối với khách hàng. Đó cần phải là những ứng dụng biết được khách hàng, dễ dàng định danh khách hàng và chỉ cần cung cấp cho khách hàng một không gian trực tuyến được cá nhân hóa mà ở đó khách hàng có thể kích hoạt những dịch vụ mình cần. Trong NH số hiện đại, NH Việt Nam cần phải xây dựng các mối quan hệ với khách hàng ở vị thế khách hàng muốn xây dựng mối quan hệ với NH. Giao tiếp với khách hàng cần phải bằng ngôn ngữ của con người khi anh ta gọi/liên lạc tới và anh ta cần phải có cảm giác hoàn toàn rằng anh ta được hiểu, dữ liệu của anh ta được ghi nhận và minh họa một cách đúng đắn.

Khi tạo một NH số mới tại Việt Nam, cần hết sức lưu ý đến đối tượng mục tiêu. Sau khi xác định được khách hàng tương lai của mình, NH có thể xây dựng quanh anh ta những sản phẩm NH mà anh ta cần thiết, có thể nói là "on-line - on time". Đối tượng mục tiêu không nên được xác định theo nhóm lứa tuổi, giới tính, thu nhập, dân tộc hoặc các phân loại khác. Những người muốn sử dụng NH số mở thông qua Internet di động thì không bao giờ thuộc bất kỳ cách phân loại nào. Họ có thể già hay trẻ, đàn ông hay phụ nữ, thuộc các tầng lớp khác nhau của xã hội, hoặc có thể nói chung là thất nghiệp (xung quanh nhiều người không tệ vẫn thiếu việc làm nhưng lại có đầy tiền!),...

NH số mới tại Việt Nam phải nên tạo ra những khác biệt chính yếu ở thương hiệu của mình trong mối quan tâm của khách hàng, khả năng đáp ứng, tính hiện đại, tính minh bạch và độ trung thực. Đóphi là NH mở với ứng dụng di động tốt nhất, cũng phải được phát triển hàng ngày theo nhu cầu của khách hàng. Không gì ở trên lại đơn giản và diễn ra nhanh chóng, nhưng trong thế giới nhịp độ nhanh hiện đại với sự phát triển ào ạt của các công nghệ sự cạnh tranh điên cuồng, thì đơn giản không cách nào khác để đạt được thành công cả. 

Các NH của chúng ta đã hiện đang làm việc chung quanh lưu thông tiền mặt tiền điện tử, nhưng lẽ giờ đây mô hình này cũng phải được điều chỉnh theo hướng hoạt động với tiền số (digital currency) nữa. Các tiền tệ hóa (cryptocurrency) như Bitcoin, Ethereum, Ripple hàng ngàn loại tương tự khác đã hiện diện trên thị trường như "tiền tư" (private currency - là tiền số không do các NH trung ương phát hành. Song song với chúng thì có hàng loạt dự án về tiền số tư có sử dụng công nghệ blockchain kiểu như Libra của Liên minh nhị thập bát tú do Facebook đứng đầu, tuy chưa được cấp phép lưu hành chính thức ở đâu nhưng cũng là những thách thức đối với mọi nền kinh tế của thế giới. Để đối phó với những thách thức của các tiền tệ mã hóa và tiền số tư kiểu Libra, trong hàng chục năm qua thì CBDC (Central Bank Digital Currency hay Central Bank Digital Cash - tiền số NH trung ương) cũng đã và đang được nghiên cứu, phát triển và thí điểm triển khai vận hành trong thực tiễn như là biểu diễn số của tiền tệ (định danh) pháp định (digital [re]presentation of fiat currency) do NH trung ương các nước phát hành. 

Nổi bật hơn hết đó là Tệ số DC/EP (Digital Currency/Electronic Payment) đã được Trung Quốc chính thức đưa vào vận hành đúng lúc đỉnh dịch COVID-19 tại Vũ Hán (hoặc đồng tiền điện tử Petro [còn có tên gọi khác là petromoneda, được đảm bảo bởi dầu mỏ, khí đốt, vàng và kim cương] do Venezuela đã đưa vào rộng rãi từ năm 2018 song hành cùng đồng tiền pháp định Bolivar). Các nước G7 (dự án digital USD là do FED hợp tác cùng Accenture phát triển, Nhật Bản cũng đang rốt ráo với dự án digital JPY của mình), hầu hết G20 và nhiều nước khác cũng đã chuẩn bị sẵn sàng CBDC để đưa vào vận hành.

Như biểu diễn số của fiat currency, CBDC sẽ hoán đổi thay thế dần tiền tệ định danh chắc chắn sẽ làm thay đổi nhiều sản phẩm dịch vụ, cũng như cấu trúc NH lõi (core banking), chế chức năng vận hành của các NH cách thức cung cấp dịch vụ cho các khách hàng của mình. vậy, các NH Việt Nam cũng cần nghiên cứu, theo dõi về việc phát hành vận hành của các CBDC tại những nền kinh tế quan hệ mậu dịch với Việt Nam, cũng như những động thái của NHNN Việt Nam về CBDC - một khi hiện nay người ta cho rằng đó bước chuyển đổi tiến hóa của tiền tệ không cưỡng nổi, đặc biệt liên quan tới khủng hoảng kinh tế do COVID-19 dường như CBDC với đơn vị tiền tệ thế giới (World Currency Unit) sẽ mang lại cho thế giới một trật tự mới, khác hẳn so với từ trước tới nay.

Chung quy, việc chuyển đổi số NH Việt Nam gồm 3 phần cốt lõi - đó chính là việc chuyển đổi số các sản phẩm và dịch vụ, chuyển đổi số "quy trình sản xuất" bao gồm cả những quy trình công nghệ lõi về quản lý và quản trị, và chuyển đổi số "việc bán hàng" (cung cấp sản phẩm và dịch vụ) - để tiến tới việc trở thành digital bank with digital banking.

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 15+16 tháng 11/2020)

Thanh Hương
Xem thêm